× Trang chủ Tháp Babel Phật giáo Cao Đài Chuyện tâm linh Nghệ thuật sống Danh bạ web Liên hệ

☰ Menu
Main » Cao Đài » Luật Đạo

Quan Hôn Tang Lễ


Thọ tang

 

Thọ tang

Phàm người mất, thì quyến thuộc phải để tang, để ghi dấu đau thương với người mất. Tùy thân sơ, mà chia ra kỳ để tang lâu mau khác nhau.

Có năm (5) bậc để tang gọi là "Ngũ Phục":

1. Tang 3 năm (Trãm thôi, Tư thôi).
2. Tang 1 năm (Cơ niên).
3. Tang 9 tháng (Đại công).
4. Tang 5 tháng (Tiểu công).
5. Tang 3 tháng (Tư ma).

Trãm thôi, nghĩa là áo tang bỏ xủ xuống, không lên trôn quần, xổ lai, không khâu bằng phẳng.

Tư thôi, nghĩa là áo tang có lên trôn, khâu bằng phẳng, quần cũng lên lai bằng phẳng.

Lệ thường, ngoài Đời có tang 3 năm, kỳ thực là 24 tháng chẵn, tức là 2 năm và tang 1 năm là 12 tháng. Ít nghe có tang 9 tháng, 5 tháng và 3 tháng.

Trong Đạo, theo Tân Kinh, mãn tuần Cửu cửu tức là 81 ngày. Từ đó, đến 200 ngày là tới tuần Tiểu Tường, tính ra là 281 ngày. Từ Tiểu Tường, đến 300 ngày là tới tuần Đại Tường, là mãn Đại tang.

Đại Tường - Tiểu Tường

Chữ Tường nghĩa là lành, là kiết. Trong nhà có tang, cả nhà mang sự thương xót, đau buồn, tưởng đến người quá cố. Thời gian qua xoa dịu nỗi đau thương, cái buồn bớt lần lần, đem lại cái vui như điềm lành, điềm tốt trở lại. Vì vậy, mà Tiểu Tường cũng có nghĩa là Tiểu Kiết Tường; Đại Tường cũng có nghĩa là Đại Kiết Tường.

 

Cách thức để tang

1. Tang Cha Mẹ ruột

a) Về phần con Trai:

  • Con thọ tang Cha, dùng Trãm thôi và Gậy trước (tre), đến Đại Tường là mãn.
  • Thọ tang Mẹ, dùng Trãm thôi và Gậy dong (cây dong đồng) đến Đại Tường là mãn.

b) Về phần con Gái:

  • Con gái xuất giá thọ tang Cha Mẹ, dùng Tư thôi, đến Tiểu Tường là mãn.
  • Con gái tại gia (chưa xuất giá), dùng Trãm thôi, đến Đại Tường là mãn.

2. Đồng cư kế phụ

  • Hai bên kế phụ và mình ở chung, tang 1 năm, đến Tiểu Tường là mãn.
  • Trước có ở chung, sau không ở chung, tang 3 tháng, đến tuần Chung Cửu là mãn.

3. Bất đồng cư kế phụ

  • Trước sau không ở chung, không thọ tang.

4. Giá mẫu

  • Người Mẹ sau khi Cha mình mất, lại tái giá, tang 1 năm đến Tiểu Tường là mãn.

5. Xuất mẫu

  • Người Mẹ mà Cha mình thôi đi, tang 1 năm đến Tiểu Tường là mãn.
  • Như người Mẹ không tái giá, tang Tư thôi 2 năm, đến Đại Tường là mãn.

6. Kế mẫu

  • Mẹ mình mất, Cha lấy bà kế mẫu, tang 1 năm đến Tiểu Tường là mãn.

7. Từ mẫu

  • Mẹ mình mất sớm, mình còn bé, cha mình giao cho bà Mẹ kế nuôi mình lớn khôn, gọi là Từ Mẫu, tang Tư thôi 2 năm đến Đại Tường là mãn.

8. Bác, Chú, Cô

  • Đồng tang 1 năm, đến Tiểu Tường là mãn. Như Cô xuất giá, tang 3 tháng đến tuần Chung Cửu là mãn.

9. Cậu, Dì

  • Đồng tang 3 tháng, đến tuần Chung Cửu là mãn.

10. Ông Cố, Bà Cố

  • Tang 3 tháng, đến tuần Chung Cửu là mãn.

11. Ông Nội, Bà Nội

  • Tang Tư thôi, đến Đại Tường là mãn.
  • Cháu đích tôn thừa trọng, thay thế cho Cha, chịu tang Ông Nội, Bà Nội, Trãm thôi, đến Đại Tường là mãn.

12. Ông Ngoại, Bà Ngoại

  • Tang đến Tiểu Tường là mãn.

13. Tang Vợ Chồng

  • Chồng thọ tang cho vợ, đến Đại Tường là mãn. Mãn tang mới được lấy vợ.
  • Vợ thọ tang cho chồng, đến Đại Tường là mãn. Mãn tang mới được tái giá.

14. Anh Chị ruột

  • Em để tang đến Tiểu Tường là mãn.

15. Anh Chị chung Mẹ khác Cha

  • Em để tang 3 tháng, đến tuần Chung Cửu là mãn.

16. Tang bên chồng

  • Nàng dâu thọ tang Cha Mẹ chồng, Tư thôi, đến Đại Tường là mãn.

17. Ông Nội, Bà Nội của chồng

  • Tang đến Tiểu Tường là mãn.

18. Tang bên vợ

  • Chàng Rễ thọ tang Cha Mẹ vợ, đến Tiểu Tường là mãn.

19. Tang người thân tộc

  • Vì ân nghĩa Thầy Trò, vì tình bậu bạn, Trò để tang cho Thầy, bạn để tang cho bạn, tùy ý, không hạn thời gian là bao lâu.
  • Vì đại ân, kẻ thọ ân để tang cho người thi ân không hạn kỳ.
  • Vì đại nghĩa, những kẻ anh hùng liệt sĩ, lập công vĩ đại, có ích cho nhân quần xã hội, cho Đạo, cho Đời, dân cảm mến để tang không hạn kỳ.
  • Công sanh thành, ân dưỡng dục, ví tợ biển rộng trời cao. Còn ai thương mình cho bằng Cha Mẹ? Còn ai nghĩa trọng tình thâm? Đến lúc lìa trần, cùng mình vĩnh biệt ngàn năm, không bao giờ trông mong gặp lại. Phận làm con phải có tấm lòng xót thương Cha Mẹ và nhớ tiếc. Tang lễ phải hết lòng thành kính, sự tử như sự sanh, sự vong như sự tồn.

 

Cách chế tang phục

Thọ tang Cha Mẹ, may áo cổ trịch như áo lễ, không lên trôn. Ở phía sau lưng, trên vai may kèm 1 tấm vải phụ bản, tỏ dấu mang sự đau xót trên lưng. Còn may quần thì sổ lai, không khâu bằng phẳng.

Tang Cha, con trai chống gậy trước (tre); tang Mẹ, chống gậy dong.

Cây gậy trước, nghĩa là Cha có tiết tháo bên ngoài, và là tiết tháo ngay chính. Cây gậy dong, có nghĩa là Mẹ có tiết hạnh bên trong, và đầy lòng từ ái. Gậy dài ngắn không chừng, tùy người cao thấp, nhưng mà phải từ dưới đất lên đến yếm tâm, có nghĩa là chủ tâm ai bi.

Cách thức chế dây rơm mũ bạc: Mũ bạc hay là Bức cân, dùng vải to xếp làm ba (3) lằn, hướng về bên hữu. Ba lằn xếp, tượng trưng Tam Cang, là ba giềng trọng trong đạo Nhơn luân.

Cùng trong một lễ ấy, sợi dây rơm buộc ngang lưng cũng phải đánh đậu 3 tao.

Con gái có chồng, mặc áo chẹt, quần lên lai.

Con gái chưa chồng, và con dâu mặc áo rộng, quần xổ lai.

Con Rễ và các cháu thành niên, thì bịt khăn trắng. Các cháu nhỏ bé, thì đội mấn.

Cháu đích tôn thừa trọng

Nếu người con Trưởng Nam chết trước Cha, Mẹ mà có sanh con Trai để lại, thì khi Ông Bà Nội chết, đứa con Trai của người con ấy (Trưởng Nam) phải thay Cha mình mà chống gậy tang để báo hiếu Ông Bà, gọi là cháu đích tôn thừa trọng. Tang phục cũng như con Trai vậy.



Xem dưới dạng văn bản thuần túy.
Lượt xem: 2769