× Trang chủ Tháp Babel Phật giáo Cao Đài Chuyện tâm linh Nghệ thuật sống Danh bạ web Liên hệ

☰ Menu
Main » Cao Đài » Lời thuyết đạo

Diễn Văn và Thuyết Ðạo của Ðức Hộ-Pháp


PHỤ LỤC 2 : Tờ Phúc sự của Hội Thánh gởi ông Chủ Trưởng Ủy Ban Điều Tra thuộc địa của Pháp. (1)

Tờ Phúc sự của Hội Thánh
gởi ông Chủ Trưởng Ủy Ban Điều Tra thuộc địa của Pháp.
(song ngữ Pháp-Việt).

CAODAISME ou                Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

Bouddhisme renové              3è Amnistie de Dieu en Orient

       ___________                                      _______________________

Saint Siège de Tây Ninh

 

RAPPORT

adressé par le  SACERDOCE  CAODAIQUE

à M. le PRÉSIDENT de la Commission d’enquête

dans les Territoires d’Outre-Mer et sa traduction.

_______________

 

Le Sacerdoce Caodạste interrogé par vous sur la rénovation du système colonial français s’excuse tout d’abord d’être obligé de mêler un peu de mystique dans l’exposé de son point de vue; il s’en abstiendra néanmoins le plus possible de façon à toucher la masse des penseurs libres, et il les prie d’avance de lui concéder qu’une religion ne peut exister sans une croyance suprême.

Pour sa Défense, nous nous permettrons de rap- peler ici que des hommes dont la valeur philosophique n’a jamais été contestée, tels que Allan Kardec, Léon Denis, ont cru aux mystères de l’Au-delà; et si nous citons ces noms connus, c’est parce que ce sont ceux qui en Europe se sont le plus rapproché des Doctrines Bouddhistes que nous pratiquons.

Dans l’ignorance presque complète, où le monde vit, de ce que les humains deviennent après leur mort;

Bản dịch Việt văn của Hội Thánh :

 

ĐẠO CAO ĐÀI hay                        Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ

 Phật giáo Chấn hưng            Đại Ân Xá kỳ 3 của Thượng Đế ở phương Đông              

 Tòa Thánh Tây Ninh                          __________________

 

TỜ PHÚC SỰ

của Hội Thánh Đạo Cao Đài  gởi cho

Ông Chủ trưởng Ủy Ban Điều Tra

các Thuộc địa và bổn dịch văn.

________________

 

Hội Thánh Đạo Cao Đài, nhờ Ngài hạch vấn, về duy tân chánh sách Thuộc địa Lang sa, xin trước kiếu lỗi cùng Ngài, chúng tôi buộc lòng phải đem pha lẫn điều bí ẩn huyền vi đạo giáo trong tố chương đã kiến thức : Hội Thánh sẽ nhận bỏ một đôi điều hầu có thể hiệp ý cùng các vị tự do tư tưởng và xin các vị ấy cũng nhường nhận cho rằng : chẳng hề khi nào một nền tôn giáo thành lập mà không có sự cực kỳ tín ngưỡng.

Muốn bênh vực nó, chúng tôi mạn phép xin nhắc đến những người mà giá trị triết lý không còn phương chi từ chối đặng : Tỉ như Allan Kardec, Léon Denis mà cũng còn tin tưởng những điều bí ẩn của cõi Hư Vô và nếu chúng tôi kể tên ra đây, là vì nơi cõi Thái Tây, duy các danh nhơn ấy thiên lệch những tôn chỉ của Phật giáo mà chúng tôi đang hành đạo.

Trong sự mơ màng hầu trọn, nơi cõi đời đang sống, nơi con người khi mãn phần thì phải thế nào, chẳng

quoi de plus défendable qu’une opinion discrète à la condition qu’elle ne tende pas à subjuger les autres.

N’est-il pas logique dans un monde où l’on a trop souvent l’occasion de voir les mauvais vivre heu- reux dans l’opulence, et les bons vivre dans la souf- france et dans la misère, de croire qu’un équilibre se rétablira au cours d’une autre vie ou de supposer que certains expient les fautes d’une vie antérieure ?

Notre conception de la justice, résultat de cet équilibre, se rassure à cette pensée; et si cet équilibre moral entre tous les êtres que nous appelons Justice, n’existait pas; çà n’est pas ce que nous voyons autour de nous dans la vie, qui aurait pu nous suggérer l’idée réconfortante de son existence.

La Foi en la Justice, c’est-à-dire dans un équilibre supérieur n’est donc pas vaine, et elle est génératrice du bien; car quel besoin aurait-on de faire le bien, dans tout ce qu'il a parfois de peu attrayant, si on ne devait pas en être récompensé ?

L’homme d’ailleurs ne peut vivre sans faire tous les jours des actes de Foi; il ne s’agit pas ici de la Foi religieuse, mais de la Foi tout court.

Les plus incrédules ne font-ils pas quotidienne- ment des actes de Foi, ne fuât-ce  qu’ en  lisant  leur  journal ?

Bien entendu, plus un esprit est éclairé, moins il a besoin de faire d’actes de Foi, mais néanmoins, comme le même être ne peut pas tout savoir; sur les points qu’il ignore, il est obligé de faire des actes de Foi vis-à-vis de ceux qui sont mieux renseignés que lui.        

chi hay hơn là một luận thuyết kín đáo, chỉ xin luận thuyết ấy đừng đè nén các luận thuyết khác ?

Lẽ chí lý có phải chăng trong một hoàn võ mà ta có dịp thấy chán chường những kẻ tiểu nhơn sống với một phần sang trọng vinh hiển, còn người quân tử thì chịu khổ não truân chuyên, mà tưởng rằng sẽ có sự công bình thường bồi lại cho kiếp khác hoặc là có kẻ phải chịu quả báo của nợ tiền khiên ?

Về mặt nạp dụng công lý chúng ta, là do nơi sự công bình ấy mà sản xuất, với nhờ tư tưởng đó mà đảm bảo. Nếu chẳng có sự công bình và tâm lý ấy trong toàn thể mọi người mà chúng ta lại gọi Công lý thì Công lý chẳng hề ra hiện hữu.  Điều đó chẳng phải người tu thấy xung quanh mình trong kiếp sống mà nó nhủ cho ta để ý lạc hứng hầu  tin  rằng  nó  quả  có  thật.

Cái Đức tin nơi Công lý, nghĩa là tin nơi sự công bình cao thâm chẳng phải là vô lối và nó làm cho sanh sản thêm điều tận thiện, vì thoảng như chẳng vậy thì chúng ta cần chi phải làm lành mà sự lành ấy đòi phen chẳng làm cho chúng ta hoan tâm, nếu không đặng hưởng một phần thưởng chi tất cả.

Con người chẳng hề sống trong một ngày mà không làm việc với Đức tin. Nơi đây chẳng phải nói về Đức tin đạo đức mà nói về Đức tin trơn thôi.

Những người vô tín ngưỡng, mỗi ngày họ có làm theo Đức tin của họ chăng, chỉ nói họ đọc báo chương là đủ ?

Thầm hiểu rằng : một cái tánh đức sáng suốt chừng nào thì ít cần làm theo Đức tin chừng nấy; mà một người chẳng đủ toàn tri toàn năng, theo những nơi khuyết điểm của họ thì họ cũng còn phải buộc mình làm theo Đức tin của những người lịch lãm hơn họ.

L’ignorant, au contraire, fait des actes de Foi toute la journée et pendant toute sa vie.

Pourquoi, dans ces conditions, dénier la Foi religieuse et les mystères de l’Au-delà alors la plupart de ceux qui les condamnent ne les ont pas étudiés à fond, et que ceux qui s’adonnent à ces études ne s’y livrent souvent qu’accessoirement et ne possèdent à leur sujet qu’une documentation restreinte sur les travaux qui ont été faits avant eux.

 Sans vouloir nous étendre davantage, nous dirons seulement que la Religion et la Foi dans l’Au-delà sont une nécessité pour le peuple; et que, plus un peuple est malheureux ou misérable, plus il a besoin d’espérer qu’une compensation lui est réservée pour plus tard et plus il a besoin de la conviction que cette compensation n’est pas un vain mot.

Le désespoir individuel mène au suicide; et le désespoir collectif à la révolution.

Le fait d’entretenir chez ceux qui souffrent cette consolation que leurs maux auront une fin, est donc une oeuvre de première necessité; et il appartient à ceux qui sont plus éclairés et qui croient sincèrement à cette compensation, d’entretenir dans le coeur de ceux qui souffrent cet espoir qui adoucit leurs maux. C’est le rôle auquel nous nous consacrons.

Or, vous admettrez avec nous que, si chez un peuple libre, cette espérance est déjà fort utile; chez un peuple colonisé, elle devient indispensable.

Hạng dốt nát, trái lại, làm theo Đức tin cả ngày và suốt cả đời.

Bởi những duyên cớ trên đây, sao lại chối Đức tin đạo đức và huyền vi bí ẩn nơi cõi Hư Vô, trong cơn phần đông nhiều kẻ đã chê bỏ nó mà chẳng chịu tìm hiểu cho tận cùng; còn những người chuyên môn học thuyết ấy thì chỉ làm cho lấy có và đặng nơi tay rất ít oi triệu chứng về công trình của người trước đã làm.

Chẳng cần bày bố cho dong dài, chúng tôi xin nói quyết : Đạo và Đức tin nơi cõi Hư Vô là một vật cần yếu cho dân sanh đó vậy. Hễ dân tộc nào càng khổ não hay là khốn đốn, thì họ lại càng cần phải trông cậy sự bù đắp dành để cho họ buổi sau  kia và phải cần tin chắc rằng : sự bù đắp ấy chẳng phải là lời nói mộng.

Sự thất vọng của cá nhơn giục phải tự tử và sự thất vọng của toàn thể giục làm cách mạng.

Cái sở hành làm cho trong tâm của mỗi người đang chịu đau đớn đặng bền giữ sự an ủi nầy là điều khổ não của họ có chỗ kỳ cùng, ấy là một cơ quan trọng yếu nhứt; và thuộc phận sự của những người sáng kiến là tin thật rằng có sự bù đắp ấy đặng bền để cái hy vọng nơi tâm những kẻ đau thảm hầu làm cho nhẹ bớt sự khổ não của họ, ấy là cái vai tuồng của chúng tôi  đã định thi thố.

Vậy thì Thượng quan cũng phải chịu với chúng tôi rằng : đối với một dân tộc tự trị, cái hy vọng ấy rất nên hữu dụng, đối với một dân tộc bị chinh phục, nó lại thêm yếu trọng.

Étudions maintenat, si vous le voulez le rôle des religions dans la conquête de l’Indochine par la France.

L’histoire de la conquête et de la colonisation de ce pays a été écrite par de nombreux historiens, plus autorisés que nous, qui avaient à leur disposition des documents que nous n’avons pas, nous ne nous risquerons pas à en reproduire ici une mauvaise imitation.

Mais puisque c’est le côté moral seul auquel nous nous attacherons, nous allons tenter de mettre en lumière les raisons profondes qui ont guidé les deux peuples dans une transformation de leurs rapports entr’eux jusqu’au point où nous en sommes arrivés aujourd’hui.

Nous n’étonnerions personne si nous disons que nous voyons dans cette histoire le contact de deux civilisations; pourquoi étonnerions-nous davantage en ne prenant de ces deux civilisations que l’essence même qui les a créées; c’est-à-dire en vous montrant qu’elles ne sont que le reflet de deux religions.

Les rapports de la France et de l’Annam s’ils sont en effet une lutte de deux civilisations en général, sont bien plus encore celle de deux religions qui se sont affrontées.

Ces deux religions sont : d’une par le Confucia- nisme, d’autre part le Christianisme.

La première : Religion aux principes de tolé- rance tellement large que sa morale s’en était                Nếu Thượng quan vừa lòng, chúng ta nên nghiên cứu ngay vai tuồng các tôn giáo trong lúc nước Pháp sang qua chinh phục cõi Đông dương.

Lịch sử nói về sự chinh phục và thâu thủ xứ nầy làm thuộc địa do bởi nhiều sử gia đã viết trước, có đủ phương thế và đủ tài liệu sẵn để cho họ nghiên cứu, mà chúng tôi không có, nên  dám mạo hiểm đem chường ra nơi đây một sự học đòi thô kệch.

 Nhưng chỉ về mặt tinh thần mà chúng tôi chú trọng thôi, nên thử đem ra ánh sáng những lý lẽ thâm thúy nó đã dắt hai dân tộc đến sự biến hóa cùng nhau mà ngày nay đã đến đỗi nầy.

 Chúng tôi tưởng không làm cho một ai lấy làm lạ nếu nói rằng : chúng tôi thấy trong đoạn lịch sử nầy, sự tương hội của hai văn hóa; sao lại chúng tôi cũng làm cho thiên hạ lấy làm lạ hơn nữa là chỉ lấy cái tinh túy của hai văn hóa nầy đã sản xuất, nghĩa là chỉ cho Ngài rõ rằng : chúng nó thật là hình bóng của hai nền tôn giáo.

Sự tương hiệp của nước Pháp và nước Việt Nam, nếu chẳng phải đều do hẳn nơi sự tương tranh của hai nền văn hóa thì thật ra là do sự  xung đột của hai nền tôn giáo.

Hai nền tôn giáo ấy : một đàng là Khổng giáo, một đàng là Thiên Chúa giáo.

Khổng giáo là một nền tôn giáo ở lý thuyết khoan hồng quảng đại đến đỗi tinh thần đạo đức của nó

elle-même relâchée et qu’elle n’était plus une sauve- garde suffisante pour ceux qui la pratiquaient;  laissant se perpétrer sans protester les pratiques mandarinales les plus condamnables, et n’offrant plus  une protection assez suâre  à ceux qui en subissaient les funestes  effets.

Elle aboutissait à une sorte de farniente  épicurienne, que rien  ne venait réveiller en vue d’une activité dirigée vers le bien.

La seconde, au contraire, religion  antinomique  de  la  première, ardente, active, passionnée, jalouse, exclusive souvent même tracassière, n’admettant nulle perfection ailleurs que sous son étiquette, nulle Vérité ailleurs qu’en ses doctrines, exigeant l’apostasie préalable à tous ceux qui désiraient s’y convertir.

N’était-ce pas par ses caractéristiques une vraie religion  de conquérant ?

Cette dernière allait  entrer en lutte  avec  son  aỵnée qui était appuyée d’un long atavisme, et qui allait, elle aussi, tenter de lui disputer ses préroga- tives  et son droit d’ aỵnesse.

La lutte  commençait.

 On peut diviser cette lutte en trois périodes :

a)  La période antérieure et contemporaine de la conquête.

b)  La période de pacification.

c)  La période de collaboration.

phải chịu từ bỏ nó, và những người tùng giáo thiếu phương che chở; rồi lại để cho duy trì, không phản đối những hành động tội tình của trường quan lại và chẳng còn cho những người đã chịu cái ảnh hưởng nguy nan của nó còn phương tự bảo lấy mình chắc chắn.

 Nó đã đáo đến một cảnh nhàn lạc, vui hứng của Épicur mà không có một cớ chi làm cho nó tỉnh mộng hầu day hành động qua mặt tận thiện.

Thiên Chúa giáo trái lại, là một nền tôn giáo ngược danh với cái trước, sốt sắng hăng hái, mê mẫn, ganh gổ, độc quyền, đòi phen gây gổ, không chịu nhận nhìn cái hay của kẻ khác ngoài cái biệt hiệu của nó, không có điều chi gọi là chơn lý ngoài cái tôn chỉ của nó, lại buộc ai muốn tùng giáo phải hành đạo mới đặng.

Do những cử chỉ ấy, quả chăng là một tôn giáo chinh phục ?

Đàng nầy, liền khởi xung đột với đàng anh là Khổng giáo, đã dựa nương một cổ sử, lại cũng toan phương tranh đoạt danh thể và quyền lực của đàng anh.

 Sự xung đột phát khởi.

 Người ta có thể chia sự xung đột nầy ra 3 thời kỳ :

1.  Thời kỳ trước và ngay buổi hỗn độn thâu phục.

2.  Thời kỳ trị bình.

3.  Thời kỳ hiệp tác.

    PREMIÈRE  STADE

Nous avons indiqué que le peuple d’Annam soumis à un Confucianisme trop tolérant et dont la morale était insuffisante à contenir les appétits de ses mandarins, ne trouvait plus de protection dans la religion de ces ancêtres. Il manquait au Confucianisme cette autorité qu’avait su imposer la Religion Chré- tienne, à l’époque de la Monarchie absolue, lorsqu’elle faisait se courber les têtes couronnées sous l’excommu- nication  ou sous la simple menace d’excommunication, et ce, souvent pour le plus grand bien du peuple français.

Jamais le Confucianisme n’avait eu de ces réactions audacieuses; il n’a jamais fait autre chose que d’appeler les hommes vers le bien par ses exhor- tations, sans menacer ni rejeter de son sein ceux qui ne se conformaient pas à ses doctrines.

Le résultat fut qu’un nombre important de malheureux, lassés d’une religion ancestrale qui ne les protégeait pas contre les abus de ses mandarins, écou- tèrent l’appel des missionnaires catholiques qui ensei- gnaient une autre morale également très belle; celle de Christ; et ils allèrent à elle avec d’autant plus de facilité qu’elle était plus agissante.

Les hauts représentants de cette nouvelle religion, - en se présentant au nom du Gouvernement français, - avaient d’ailleurs leurs entrées jusqu’à la Cour de Huế, par laquelle cette religion était autorisée et des avantages considérables avaient même été accordés  à leurs missionnaires. 

KHOẢN  THỨ  NHỨT

 Chúng tôi đã chỉ rõ rằng : dân tộc Việt Nam đang theo Khổng giáo rất quảng đại, nên tinh thần của nó không đủ phương kềm thúc những điều tham tàn của trường quan lại, thành thử không tìm đặng sự bảo bọc trong tôn giáo của tổ phụ họ. Khổng giáo thiếu quyền năng của Thiên Chúa giáo đã hữu định, trong buổi vương quyền độc chiếm, khi nó đã làm cho các vua chúa phải cúi đầu dưới quyền trục xuất hay là hăm trục xuất ra khỏi Đạo, lại  đã làm cho  dân tộc Pháp  nhờ  nhỏi  biết  bao.

Chẳng hề buổi nào Khổng giáo dám phản động  mạnh bạo như thế, nó chẳng làm chi khác hơn là kêu gọi nhơn sanh vào đường chí thiện, bởi cách khuyên nhủ, không hăm dọa sa thải khỏi cửa Khổng những kẻ không trọn tùng tôn chỉ.

Kết cuộc, một số khá đông người bất phước chán ngán với tôn giáo của tổ phụ, bởi nó không thể bênh vực họ trong điều quá quyền của quan lại, rồi nghe những thầy truyền giáo của đạo Thiên Chúa dạy một giáo lý cũng vẫn tốt đẹp là Đạo của Christ, nên họ liền theo giáo lý ấy một phương cách dễ dàng vì bởi nó cần mẫn họ hơn.

Những vị thay mặt cao trọng của giáo lý mới mẻ nầy, nhơn danh của Chánh phủ Pháp,  đến tận triều Nam và nhờ đấy  mà Đạo đặng rộng phép và các thầy truyền giáo đặng ân tứ nhiều sở lợi vĩ đại.

Des Chrétientés avaient été ouvertes en maints endroits et ces domaines s’étaient transformés un peu en terre d’asile aussi, bientôt les néophytes vinrent-ils dans ces lieux pour se mettre à l’abri de leurs madarins  prévaricateurs.

Malheureusement, ce refuge qui servait de lieu de réconfort à l’Annamite pourchassé par la rapacité de ses mandarins, servait également de refuge à ceux qui cherchaient à se soustraire purement et simple- ment à des châtiments mérités; et la conscience publi- que annamite commença à s’émouvoir de ce que les Chrétientés permettaient parfois à des criminels avérés, d’échapper à la justice mandarinale qui les recherchait.

Des réactions sanglantes se produisirent contre les néophytes et leurs pasteurs : le sang coula. Il y eut des martyrs de la Foi Chrétienne et la France qui, à ce moment, était la fille aỵnée et reconnue de l’Église, entendit venger le sang de ses missionnaires; elle en profita pour faire la conquête d’une grosse partie de la Cochinchine et pour imposer son Protectorat à l’Annam.

C’était, en réalité, la guerre du Christianisme contre le vieux Confucianisme dénommé avec mépris "Paganisme”.

 Dans sa conquête, la France fut aidée en partie par les indigènes des Chrétientés.

Nhiều nhà chung đặng khai mở mọi nơi và những cơ nghiệp ấy biến thành Thánh địa, bởi cớ, liền đó, nhiều kẻ tùng giáo đến trú ngụ đặng tránh sự tham tàn của quan lại.

Hại thay, nơi làm chỗ đình trú cho những người Việt Nam bị quan lại tham tàn áp bức, lại cũng dùng làm nơi trú ngụ ho những kẻ trốn tránh tội tình đáng trừng trị, nên dân tâm người Việt Nam khởi ra sôi nổi rằng : các nhà chung che chở những chánh phạm thoát vòng công lý của các quan viên tập nả.

 Nhiều phản động dữ dội khởi dấy lên đối với các tín đồ và các vị giáo sĩ : lưu huyết. Đã có tử đạo vì đức tin Thiên Chúa giáo và nước Pháp buổi ấy, vốn là trưởng nữ nhìn nhận của Đền Thánh, nhứt định báo thù sự lưu huyết của các vị truyền giáo, nên thừa cơ hội ấy, chinh thâu một phần đất khá lớn nơi Lục Tỉnh và buộc nước Việt Nam tùng quyền bảo hộ.

 Thật ra là trận giặc của Thiên Chúa giáo chiến đấu với  Khổng giáo, gọi nhục danh là :   Bụt Thần.

Trong buổi chinh phục, nước Pháp nhờ thổ nhơn của nhà chung vùa giúp.

Mais si l’on veut y réfléchir : dans une période où la France et l’Annam étaient en guerre, les Annamites qui servaient ainsi la France étaient des gens qui n’hésitaient pas, pour leur intérêt personnel, à trahir célibérement leur Souverain en passant au service de l’ennemi.

Ils ne pouvaient tout de même pas être d’une moralité supérieure à la moyenne de ceux qui dont ce rôle ne choque pas la conscience.

Ce serait d’ailleurs une erreur de croire que le sentiment nationnal n’existait pas chez le peuple annamite, tout le dément, et celui-ci, jusqu’à ces derniers temps, se plaisait à la représentation de scènes reproduisant les anecdotes des temps hérọques.

Tel fut le bilan de la première période qui opposa au vieux Confucianisme fatigué, un Christia-   nisme actif, mais représenté par un élément annamite qui n’était pas de premier choix.

 DEUXIÈME  STADE : La pacification.

La France fut victorieuse, et de ce fait, l’autorité des Chrétientés augmenta de jour en jour, pendant que l’élément Confucianiste rétrogradait.

Les vieilles coutumes d’Annam ne s’étaient malheureusement pas modifiées, et les mandarins n’avaient pas changé leurs méthodes, néanmoins l’énorme majorité du peuple annamite restait cepen- dant attachée malgré tout à ses traditions.

Mà nếu ai để ý suy nghĩ : trong buổi Pháp - Nam chiến đấu, những người Việt Nam ra giúp Pháp đều là hạng người vì tư lợi, không còn ngần ngại gì mà không phản Chúa của họ đặng theo kẻ nghịch.

     Vậy thì, họ cũng không phải đặng một tâm đức cao thượng hơn những kẻ cho vai tuồng ấy là trái nghịch với lương tâm.

Nếu tưởng rằng quốc dân Việt Nam không có lòng ái quốc thì thật là lầm lạc đó, nhiều cớ tố trần và một cớ nầy, đến thời gian sau đây, họ đã diễn ra nhiều tấn tuồng theo những cổ tích hùng dũng buổi xưa.

Ấy là tổng số của thời kỳ thứ nhứt đem đối diện Khổng giáo xưa mỏi mê với Thiên Chúa giáo oanh liệt mà những người Việt Nam đứng ra làm danh thể cho nó không phải là hạng đúng mực chọn lựa.

 KHOẢN THỨ NHÌ :  Trị bình.

Nước Pháp đắc thắng, và vì lẽ ấy, quyền hành các nhà chung tăng thêm hằng buổi, trong cơn Khổng giáo thối bộ từ từ.

Hại thay, những cổ tục Việt Nam không thay đổi và quan lại cũng không canh cải chánh sách, nhưng phần đông của quốc dân vẫn còn đeo đuổi theo tục lệ xưa mãi.

Le Christianisme en effet exigeait le renonce- ment solennel aux croyances paiennes; c’était grave ! Il fallait renier formellement l’autel de ses ancêtres et le culte séculaire qui leur était duâ; pour aller se prosterner devant de nouveaux autels près desquels l’annamite ne cherchait un refuge que dans un but exclusivement  intéressé.

Les cathéchumènes n’étaient certes pas trom- pés dans leurs espérances; car ils étaient dispensés de l’impôt, obtenaient des concessions et devenaient propriétaires, là où les autres n’étaient que fermiers ou coolies.  Dès que surgissait une difficulté, leur missionnaire allait trouver les Résidents de France et tout s’arrangerait selon leur désir. L’intérêt de la Chrétienté étant avant tout de grouper des paroissiens riches et généreux.

C’est ainsi que, pour beaucoup l’apostasie fut l’origine de la fortune.

Par contre, la masse du peuple composée des braves gens fidèles à leurs traditions restait misé- rable et digne, se refusant à un reniement que leur conscience réprouvait.

La lutte se faisait donc de plus en plus âpre entre la nouvelle religion qui obtenait toutes les faveurs, bien que ses éléments ne soient pas dominés par une morale parfaite; (1) et l’autre qui essayait de lui tenir tête, bien que ses hauts partisans n’aient rien modifié à leurs méthodes rapaces.

(1) Cette qualification ne vise en rien, les Chrétiens de la seconde générations.

Thiên Chúa giáo thì buộc phải từ bỏ những sự tín ngưỡng ngoại đạo, ấy là điều trọng hệ. Phải từ chối hẳn đền thờ của tổ phụ và sự tế tự  đã roi truyền, đặng đến quì lạy trước những đền thờ mới mẻ mà người Việt Nam chỉ vì mục đích  tư  danh  tư lợi, tìm tàng đến đặng trốn lánh.          

Những người giả đạo ấy không lầm trong sự hy vọng của họ, bởi vì họ đặng miễn thuế, đặng đất địa và trở nên gia chủ những nơi mà kẻ khác chỉ làm tá điền hay là làm tớ mà thôi.

Khi có điều gì khó khăn xảy đến, thì các Cha, Cố đạo đến lo với quan Công Sứ Pháp và mọi điều đặng hoan hỷ theo ý muốn của họ. Các nhà chung vụ tất sự tom góp theo mình những nhà đạo giàu có và quảng huợt.

Vì vậy mà sự vào đạo là căn nguyên của quyền lợi.

Trái ngược lại, trong đám dân, phần nhiều gồm những người chơn chất và trung thành cùng tục lệ của họ thì chịu khốn khó, nhưng vẫn cao thượng, vì đã từ chối những điều mà lương tâm của họ biếm trách.

Sự tranh đấu lại con trở nên thúc nhặt giữa nền tôn giáo mới mẻ hưởng đủ đặc ân, dẫu rằng vi cánh của nó đều không trọn định bởi một tinh thần đạo đức hẳn hòi (1), còn đàng kia thì thử chường mặt chống chỏi, dẫu rằng những đảng phái của nó chẳng chịu sửa đổi chánh sách gian ngược

(1) Câu nầy chẳng chỉ trích những người Thiên Chúa giáo đời sau.

Une telle rivalité n’avait plus rien d’une religion : la religion n’était plus qu’un mot, un prétexte, un drapeau, un signe de ralliement, dont l’idée morale absente ne laissait plus place qu’à une simple superstition.

N’y avait-il pas place à ce moment pour un culte rénové destiné aux braves gens, aux travailleurs sans épithètes et sans calculs, respectueux des souvenirs que leur avait légués leurs anciens, et qui, cependant étaient prêts à respecter l’enseignement du bien, partout où ils le rencontraient, à condition, pour cela, de ne pas être obligés de considérer comme abjecte, la religion dans laquelle ils étaient nés ?

Ceux-là n’avaient-ils pas besoin de la création d’un nouveau refuge moral plus approprié à leur état d’âme, d’une conception plus vigoureuse condamnant sous quelque forme qu’elle les rencontrât les appétits des uns et des autres, pour rester dans la morale élevée et pure.

C’est ce que plus tard le Caodạsme a tenté, et on comprendra aisément qu’il a été dénoncé aussi bien par les Chrétiens auxquels il faisait un tort considérable, que par les mandarins bouddhistes dont il réprouvait les méthodes; mais n’anticipons pas, car il ne vit le jour que beaucoup plus tard.

Cuộc tương tranh dường ấy, còn chỉ rằng tôn giáo : tôn giáo chỉ là một khẩu thuyết, một viện lẽ, một đại kỳ, một biểu hiệu hiệp đảng mà tinh thần đạo đức đã vắng, duy lưu lại đều là những sự dị đoan mê tín.

 Vậy thì, trong khi ấy, không còn chỗ nào mà chấn hưng tôn giáo để cho hạng người chơn thật, hạng lao động không phiền hà và không so đo biết kỉnh trọng những dấu tích xưa của tiền nhơn để lại, và họ cũng vẫn sẵn lòng kính trọng giáo lý tận thiện bất cứ là nơi nào họ gặp đặng, miễn là vì lẽ ấy không làm cho họ phải buộc mình coi Đạo nhà là thô hèn.

 Có cần tạo cho những kẻ ấy  một nơi đình trú tinh thần mới mẻ vừa theo tâm đức của họ mà tư tưởng mạnh mẽ chỉ trích cái hám tâm của đôi đàng bất cứ hình bóng khuôn khổ nào của nó mà họ đã gặp, hầu trọn gìn tinh thần cao thượng và thanh bai chăng ?

 Ấy là điều mà Đạo Cao Đài đã làm thử và người ta sẽ dễ hiểu rõ ràng : nó đã bị những người đạo Thiên Chúa tố giác là do nó làm cho họ thất phận rất nhiều, còn quan lại Phật giáo thì bị nó biếm trách những chánh sách gian ngược. Nhưng mà bây giờ chúng ta chẳng cần vội luận, vì Đạo Cao Đài sản xuất ra trong thời kỳ sau xa kia mà.

 TROISIÈME  STADE : La collaboration

   Vint alors la troisième période : celle de la collaboration.

Ce mot fut prononcé un jour par M. Albert Sarraut, Gouverneur Général de l’Indochine dans un de ses discours; et il eut une repercussion jusque dans les coins les plus reculés des campagnes.

Le peuple annamite hésita à y croire; les colonialistes français retardèrent un peu sa mise en pratique, mais la sémence était jetée. Elle se mit à germer tout doucement, - trop doucement peut-être au gré du peuple annamite , - mais, des deux côtés, des hommes avaient entendu cet appel; et, intérieure- ment, ils y avaient  aussitôt  répondu.

Un membre du Conseil privé, aujourd’hui décédé, M. Lê Văn Trung, qu’en 1933, M. Albert Sarraut, Ministre des Colonies, a bien voulu appeler son ami du haut de la Tribune de la Chambre des Députés voulut que cet appel ne restât pas sans écho.

Longtemps, il chercha en vain la concrétisation du rêve que son Gouverneur Genéral avait fait naỵtre dans son coeur; et , un jour, - beaucoup plus tard, - en faisant ce qu’en France vous appelez des recherches spirites, - il eut une révélation qui lui donna la solution du problème.

 

Cette collaboration qui semblait alors impos- sible, bien que promise par le Chef de la Colonie, il fallait, pour l’obtenir, arriver à concilier les deux civilisations orientale et occidentale,      



Xem dưới dạng văn bản thuần túy.
Lượt xem: 1172