× Trang chủ Tháp Babel Phật giáo Cao Đài Chuyện tâm linh Nghệ thuật sống Danh bạ web Liên hệ

☰ Menu
Main » Cao Đài » Lời thuyết đạo

Diễn Văn và Thuyết Ðạo của Ðức Hộ-Pháp


3.- Chơn truyền của ĐĐTKPĐ : Đạo là gì ? Trời là ai ? Thuật lại bài thi pháp văn của V. Hugo. (1)

Chơn truyền của ĐĐTKPĐ : Đạo là gì ? Trời là ai ? Thuật lại bài thi pháp văn của V. Hugo.
Ngày 15 - 7- Nhân Thân (dl 16 - 8 - 1932).

 

DIỄN VĂN của ĐỨC HỘ PHÁP
đọc tại Tòa Thánh Tây Ninh
về Chơn truyền ĐĐTKPĐ.

Chư Đạo hữu lưỡng phái,

Từ một năm nay, nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chênh nghiêng làm cho nhục nhã đến tôn chỉ chơn chánh cao thượng của Chí Tôn giáng lập.

Tệ đệ lại chưa hề để một lời biện bạch, nên làm cho nhiều bực cao minh nghĩ rằng : Tệ đệ chắc hẳn có riêng tình tư vị mấy vị đương quyền, y theo những lời của những phái nghịch Đạo gieo truyền vu cáo. Tệ đệ chẳng cần minh tả ra đây mà làm gì và cũng chẳng cần phản đối cùng ai, để cho tòa lương tâm của chúng sanh xử đoán.

Tệ đệ duy nói chắc rằng, tệ đệ chưa buổi nào biết vị nể ai tất cả.

Phàm hễ ai đã để lòng vị nể ai, trong mọi việc gì thì tất nhiên phải có duyên cớ buộc ràng, hoặc là bởi chung hưởng quyền lộc, hoặc là chung chịu tội tình, hoặc bị mang tình thân ái, nhưng mà điều sau nầy vẫn ít có, vì sợ để hại kẻ đồng tình, mình bị liên can vào đấy.

Chí như làm Đạo thì chưa thấy chi mà nên gọi là quyền lộc công danh, bằng quả có đi nữa thì chẳng qua là phương pháp đê hèn của mấy người giả Đạo dối trá tạo thành đặng hưởng chung mượn lén vậy thôi.

Ngoài mặt đời, chưa ai dám cả gan đường đột xưng hô lên rằng : Tôi lập quyền tạo lộc cho tôi.

Nếu có kẻ điên nào dám nói như vậy thì chúng sanh đã xa lánh họ rồi.

Thế nào cũng phải mượn màu đạo đức đặng dụ dỗ kẻ tâm thành, tạo quyền lộc cho mình, giựt công danh của chúng. Muốn đoạt cho đặng mục đích ấy thì họ phải làm mặt chơn thành, lấy nhơn nghĩa đặng đề danh làm cờ hiệu.

Muốn khoe khoang mình thì phải chê bai người,  có chê bai người mới có thể khoe khoang mình, khoe khoang mình đặng mưu đoạt công danh quyền lợi là thường tình thế sự. Hễ mình dưỡng nhơn chi ác thì tự nhiên mình muốn khoe mình, đôi khi lại khỏa lấp chỗ phải của người đi nữa.

Nhơn nghĩa ! Nhơn nghĩa !  Hai chữ ấy từ trước đã đủ quyền lực giúp đời, đồ vương định bá cũng đã nhiều.

Hạ Kiệt có vô đạo thì Thương Thang mới thâu cơ nghiệp với danh nhơn nghĩa.

Thương Trụ có vô đạo thì Châu Võ mới thâu cơ nghiệp với danh nhơn nghĩa.

Châu U có vô đạo thì chư Hầu mới có xưng vương lập bá với danh nhơn nghĩa.

Lục quốc có vô đạo thì Đinh Tần mới thống nhứt nhờ danh nhơn nghĩa.

Đinh Tần có vô đạo thì Hớn Bái Công mới đoạt đặng thiên hạ cũng nhờ danh nhơn nghĩa.

Hớn Hiến Đế cô thế nên Ngụy Tào mới đoạt nghiệp với danh nhơn nghĩa, vv. . . và vv . . .

Cơ quan nhơn nghĩa nó mạnh mẽ biết chừng nào mà thế gian chẳng mời cầu sao đặng.

Nhưng mà bậc trí nhơn chưa để cho ai dối dụng phương pháp ấy cùng mình.

Gia Cát điếu Châu Du, duy Phụng Sồ không đổ lụy. Vì cớ mà tệ đệ bụm miệng bịt tai, ngồi làm thinh coi hành vi quỉ quyệt của người đặng cười, gọi là thú vị riêng của tệ đệ.

Tệ đệ chỉn lo ngại có một điều là mặt Chơn Đạo của Chí Tôn nó giúp thêm cho hai chữ Nhơn Nghĩa của Nho Tông mà làm thành một ngọn binh khí diệu huyền không ai thắng họ nổi.

May thay cái danh Đạo của kẻ gian quả nhiên giả tướng nên tệ đệ đem mặt Chơn Đạo ra đây đặng đấu báu giữa tòa sanh chúng.

Vậy chư Đạo hữu cho tệ đệ luận thuyết chữ ĐẠO  là gì trước đã.

 

ĐẠO là gì ?

Đạo là một tiếng mượn đặng chỉ sự vô hình hay là định danh (Entité). Tiên Nho nói rằng : Cường danh viết Đạo. Sự vô hình ấy là cơ mầu nhiệm của nhứt linh hiệp vạn linh, hay là vạn linh hiệp nhứt linh (Le mystère du rapport entre Dieu et ses Créatures ou les Créatures à Dieu).

Nói rõ thì là cơ mầu nhiệm Trời và Người hiệp một, theo cổ nhơn lấy mình mà tầm tánh Chí Linh nên đặt tên là Đạo.

Nho gia cho Trời và Người đồng trị làm cơ quan mặt luật hữu vi, Đạo Đời tương đắc, lấy tánh lý chí

thiện đặng hiệp tánh Chí Linh nên cũng cho  tên là Đạo.

Thần giáo thì lấy danh Chí Linh mà làm cho có ra lẽ vận hành huyền diệu, đặng làm chủ tánh chất của người đời. Lấy hai lẽ, hữu cảm thì hữu ứng mà kềm thúc đức tin, cũng do Đấng Chí Linh vi chủ nên cũng xưng tên là Đạo.

Thánh giáo lại lấy hai chữ lân tuất thương sanh cứu dân độ thế làm mục đích cho rằng hễ Chí Linh đã ở trong tánh chất của người thì người ấy là Trời, hễ thương người tức là thương Trời, mà thương Trời hết lòng hết dạ thì đoạt đặng tánh Chí Linh của người, nên cũng gọi là Đạo.

Lão Tử giáo gọi là Tiên giáo thì lấy cái êm tịnh của trí lực tinh thần làm cơ quan đoạt tánh Chí Linh của Tạo hóa, cho rằng để ngoại cảm của vật chất là đời xông đột thì trí lự phải xao động, trí lự xao động thì tinh thần phải mờ ám, nên cũng cho rằng muốn đoạt đặng tánh đức Chí Linh thì phải luyện tập cho đặng nhàn thân nhàn trí, xa lánh đường đời, nên cũng hô danh là Đạo.

Thích giáo hay là Phật giáo thì cho rằng hễ còn suy tính thì còn hay biết, hễ còn hay biết thì còn trong vòng hữu định của đời, nên dạy rằng, phải tự diệt cho hết hay biết thì mới nhập vào linh cảnh của mình, nhập đặng vào linh cảnh của mình rồi mới mong thấu đáo Chí Linh Tạo hóa, nên tự tôn là Đạo.

Trung Dung nói :

Thiên mạng chi vị tánh, suất tánh chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo.

- Thiên mạng chi vị tánh, nghĩa là : mạng Trời ấy là tánh.

Cái tánh linh của ta do nơi Đấng Chí Linh cho ta, lại do đấy mà tạo mạng sanh của ta; vận thời kiếp số của mỗi người đều tùy điểm linh quang lớn nhỏ nghĩa tùy theo mạng của mỗi người.

Cả nhơn loại và vật loại đều thọ nơi Đấng Chí Linh một điểm linh quang, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc lớn hoặc nhỏ, đặng định hàng phẩm đẳng cấp của chúng sanh, vì vậy cho nên cả cơ tạo hóa hữu hình đều chung gọi là vạn linh sanh chúng.

Người cũng là một vật trong vạn vật, nghĩa là nhứt linh trong vạn linh, nhưng mà linh tánh hơn vạn vật, biết đặng cái linh tánh ấy là mạng Trời nên đặt tên là Thiên mạng.

- Suất tánh chi vị đạo, nghĩa là : rèn đúc trau giồi cái tánh ấy là đạo.

Người cũng đã là vật thì tự nhiên phải triêm nhiễm vật tánh nơi mình, buộc hễ đói phải kiếm ăn, vì có ăn mới có sống, buộc trần lỗ phải kiếm mặc, vì có mặc mới ấm thân.

Nặng mang cái mảnh hình hài gọi rằng mạng sống, luật thiên nhiên bảo tồn (La loi de conserva- tion) định vậy, phận thiêng liêng giúp thế nơi mình, nên cũng phải chung lộn thế tình ăn ăn mặc mặc.

Nào là vinh thân, nào là phì gia, tuồng đời nêu trước mắt như lượn sóng ba đào xao xuyến giữa dòng thế sự. Nào là yếu thua mạnh thắng, nào là ngu thiệt trí hơn, nhập vào trí não như gươm giáo đua tranh

giữa trận lợi danh hoàn võ.

Vì vậy mà đòi phen phải vùi lấp tánh linh, xu về hình thể.

Tuy vân thế tình vẫn vậy, mà cũng còn có lắm Đấng cao minh, chơn thần đắc kiếp, thường xem vạn vật mà suy đoán phận mình nên đặng am hiểu rằng cái linh tâm con người vẫn vô hạn giới. Ấy vậy, cái kho vô tận của Chí Linh cũng có phương đoạt đặng. Dò đon từ bực trí lự của mỗi loài thì thấy cả vạn linh đều biệt phân đẳng cấp, dầu cho cả cá nhơn đối với trọn loài người cũng thế, rồi tìm cách thế mà luyện tập lấy mình, gọi là TU, làm cho linh tánh khỏi thi hài ràng buộc thì tự nhiên thấy nó đặng tăng tiến lên cao, cơ bí mật huyền vi của Chí Tôn hiểu thấu.

Câu “suất tánh chi vị đạo” nghĩa là : đem tánh linh ra khỏi vòng nhục thể (gọi là thoát xác) thì có thế hiệp tánh với Chí Linh nên cho là Đạo.

- Tu đạo chi vị giáo, nghĩa là : trau Đạo gọi là giáo.

Đào luyện cái tánh linh cho sáng suốt thêm hoài gọi là TU, song cách thế mình tu vẫn nhiều phương pháp, lập cho nên phương pháp đặng tự giáo lấy mình, hay là cầu giáo với kẻ cao minh giúp giùm phương pháp. Tự giáo, nghĩa là mình đủ trí lự đặng đặt ra phương pháp mà tu luyện lấy mình; cầu giáo là cầu kẻ cao minh dạy giùm phương pháp.

Tiếc thay bậc cầu giáo vốn nhiều người, còn bậc tự giáo xem ra phần ít. Bởi cớ ấy mà làm cho mặt địa cầu nầy có nhiều tôn giáo.

Tệ đệ xin chư Đạo hữu thầm nghĩ coi, sau nầy chữ “tôn giáo” và chữ “đạo” tự nhiên đặc biệt.

Bậc tự giáo vẫn ít cũng chẳng có chi rằng lạ.

Ông Thiệu Khương Tiết nói rằng :

Thượng phẩm chi nhơn, bất giáo nhi thiện,

 Trung phẩm chi nhơn, giáo nhi hậu thiện,

 Hạ phẩm chi nhơn, giáo diệc bất thiện.

 Lại thêm như vầy :

Bất giáo nhi thiện, phi Thánh nhi hà ?

  Giáo nhi hậu thiện, phi Hiền nhi hà ?

  Giáo diệc bất thiện, phi ngu nhi hà ?

Chiếu theo mấy câu nầy thì bậc Thánh đức hoàn toàn mới có phương tự giáo.

Chúng ta lại còn hiểu rằng ông Thiệu Khương Tiết lấy thiện giáo làm đạo bổn thì là phép lập giáo hay biết bao nhiêu !  Ai dám gọi rằng cổ nhơn không viễn kiến.

 

TRỜI là ai ?

Trời là Đấng đủ quyền hành Chí Linh mà tạo thành càn khôn thế giới, Đấng tự hữu hằng hữu đã sanh thành vạn vật với loài người, Cha cả của chúng sanh, chúa của các đẳng linh hồn, chủ của chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, vv . . . theo ngôn ngữ của các sắc dân tôn tặng.

Kể hoài cũng không hay gì hết.

Cái không trung vô ngằn (l’infini) không bờ bến kia đã huyền bí bao nhiêu thì Đấng Tạo hóa là chủ tể của nó cũng huyền bí bấy nhiêu. Thật là hễ càn khôn vô tận thức thì tánh đức của Hóa công cũng vô tận thức.

Chí ư xem thử cơ quan hữu vi là vạn linh của tay người đào tạo, cũng thấy rõ rằng là cơ vô tận.

Càng trầm tư mặc tưởng mà tìm tòi tánh Trời thì càng thấy to tát nhiệm mầu mà phải kinh tâm tán đởm.

Dầu bên Âu Tây hay là nơi Á Đông đây cũng vậy, từ thử cũng sản xuất lắm mặt hiền tài, trí cao học rộng, chưa để ý vào một tôn giáo nào đủ sức gợi đức tin, để tự mình quan sát. Thường lấy cả cuộc hữu vi thế giới đặng làm máy hành tàng mà tìm cho ra mặt Đấng Chí Tôn vạn vật. Càng tìm kiếm càng lạc lầm, càng muốn hay càng thấy dốt, rốt lại chỉ than rằng : Thật là tối cao !  Thật là tối đại !

Thối chí ngã lòng muốn toan bỏ lảng, lại hại nỗi mình cũng là một vật của toàn vạn vật nơi võ trụ nầy, nếu mình không biết nó thì mình lại chẳng biết mình, cơ tấn hóa càn khôn cứ trêu ngươi mãi mãi, mà ngặt nỗi muốn biết nó thì phải biết tánh đức của tay Tạo hóa, mà Đấng Chí Tôn Tạo hóa lại khó tìm, chừng ấy cũng ép mình theo bậc thường nhơn, tùng theo một tôn giáo nào đó đặng cho có phương thế thờ Trời, dầu pháp luật khó khăn, dầu cho lập giáo trái hẳn cùng chơn lý thể nào cũng chịu.

Ai nói Ông Trời thế nào cũng nghe theo vậy, dầu riêng hiểu rằng lý thuyết khó nỗi để tin, cũng không đành cãi, là tại đã để ý rằng, với tánh thật thà quê dốt mà có thể tìm trúng sự thật hơn trí thức cao minh vì đã thấy cái trí thức cao minh của mình đã biết lầm hơn với tánh thật thà quê dốt.

Sự quyết đoán chẳng đủ nơi mình thì dầu cho học rộng thấy xa, cao minh mẫn đạt cho mấy đi nữa, cũng phải đòi phen chịu hạ mình dưới quyền cường từ áp chế.

Ông Galilée là nhà toán pháp (Mathématicien) cách vật (Physicien) và thiên văn (Astronome) của Ý Đại Lợi (Italy) sanh tại thành Pise, người đã khai sáng cách trí học tại Ý, khi vô chầu lễ trong Đền thờ Pise, người ngó thấy cây đèn treo trong Đền thờ đòng đưa đúng theo trường canh nhịp nhàng quá đỗi nên mới bày ra cái quả lắc đồng hồ; người tạo đặng hàn thử biểu (Thermomètre) và cân thủy khí (Balance hydrostatique), kiếm đặng cái hấp lực của địa cầu đặng định cân mọi vật (Loi de la pesanteur), tuyên bố cơ thể lực cân (Dynamique). Qua năm 1609, người tạo đặng một ống thiên lý, nhờ đấy mà người xem đặng sự vận hành nguyệt tượng. Từ ấy người nhìn theo thuyết lý Copernic đã định quyết rằng Địa cầu nầy có hai phần luân chuyển : tự chuyển là xây tròn một mình nó và nhựt chuyển là chạy chung quanh mặt trời, nên định cho rằng mặt trời là trung tim, nghĩa là rún của thế giới chớ không phải trái đất nầy là trung tim của thế giới, và trái đất cũng phải chịu hấp thụ ánh sáng quang minh của nó, cũng như các địa cầu khác mà làm ra ngày và đêm.

Lý thuyết ấy tuyên bố ra làm cho kinh động đảng Kinh học (Scolastiques) (Thần học Kinh viện của Thiên Chúa giáo La Mã] và triều đình thành Rome.

.        Tòa Thánh Gia Tô giáo muốn buộc người cho đặng bèn định rằng lý thuyết Copernic định thế giới càn khôn là Tà giáo và đòi người đến mà cấm tuyệt không cho truyền bá lý thuyết ấy ra nữa.

Người chịu hứa mọi điều, nhưng khi về đến thành Florence lại viết một bộ sách mà trực thuật cái lý thuyết chơn thật  ấy ra nữa.

Bộ sách bị giải nạp ra Tòa đạo (Inquisition), năm ấy người đã 70 tuổi rồi mà cũng bị bắt giải ra Tòa đạo. Tòa buộc người phải quì mà thề và khai rằng lý thuyết của người là Tà giáo, đặng tránh cho khỏi án thiêu mình.

Khi người cầm viết ký tờ khai thì dậm cẳng xuống đất mà than rằng : “Nhưng mà ta quả nhiên nghe nó hẳn hòi vận động.”

Từ ấy người bị Tòa đạo gìn giữ một cách nhặt nhiệm, dường như người bị tù lỏng kia vậy. Người bị mù và chết năm 1642, hưởng thọ đặng 78 tuổi.

Ôi ! Một vị hiền triết dường ấy mà còn bị đè nén vì tư tưởng thế nầy, là bởi cơ quan thế giới quá trí của người đời, nên không cớ không bằng, vô phương đối chứng.

Cái sự thật đã về ai ? Ông Galilée hay Tòa đạo? Chư Đạo hữu cũng thầm nghĩ bên chơn thật bị thảm khổ là dường nào mà xét suy giùm lẽ đạo.

Cái tai nạn của ĐĐTKPĐ ngày nay cũng như ông Galilée, khó trưng bằng cớ buổi nọ đó vậy.

Đấng vô hình quyền năng đã tạo thế nầy, từ tạo Thiên lập Địa chưa có một người nào đặng gặp.

Sự gặp đặng Người và chung ở cùng Người là một phần thưởng quí trọng không cùng, dầu cho các Đấng Chí Tiên Chí Phật đi nữa cũng hằng ngưỡng vọng.

Lý thuyết nầy cũng là một tánh lý thường tình, gần đặng một người trí thức hiền tài, dầu ai ai cũng ước, huống chi đặng thân mật cùng Đấng Chí Thiện, Chí Linh, ai không ngưỡng vọng ?

Bởi thế mà trí lự con người vốn chưa quyết đoán, hai lẽ có không vốn chưa bằng cớ.

Kẻ thì sợ Người, vì thấy lành có lành trả, ác có ác báo thì định rằng thế nào cũng quả nhiên có kẻ cầm quyền thiêng liêng vạn vật.

Kẻ thì thương Người, vì thấy mọi vật hóa sanh đều về công ích; mưa móc nắng nôi chứng phần nuôi chúng.

Kẻ thì mến tài Người, vì thấy bủa khắp bao la vận hành quảng đại mà không có tình riêng, vô tư vô vị, vàn vàn sanh chúng, chẳng bỏ một người, có sanh thì có nuôi, không để ai sót, báo ứng chẳng lầm, thưởng răn đủ phép.

Tuy vậy mà cũng có hạng người hờn giận Trời, oán ghét Trời, dám lộng ngôn phạm thượng. Hạng người nầy chúng ta hết phương để luận.

Trừ ra mấy vị Giáo chủ đầy đủ Thánh đức Đạo tâm (Instinct religieux) hoặc ở ngôi vị thiêng liêng đã thân cận cùng Người, hay là đặng nghe quả quyết danh Người, hoặc là đặng cao siêu tự nhiên đoạt tánh, dầu cho nặng mang thi phàm xác tục đi nữa thì thoạt nghe đến thoạt đủ tin, dường với  kẻ  thâm tình nặng nghĩa. Tâm linh xui khiến dường như nghe đến danh Cha, dầu chưa thấy mặt Già, nhắc danh tánh châu sa lụy đổ. Cái cảm tính ấy không phương thế tỏ ra cho trọn đặng. Ai đã có Đạo tâm đều đã đặng thử mình mà tự hiểu.

Còn phần đông đều là những trang tầm chơn lý. (Tệ đệ chẳng dám luận tánh đức của bậc người nầy, chỉ để cho chư Đạo hữu nghiên cứu mà hiểu thầm cũng đặng), đều cho rằng Chí Tôn là ông Thần Chơn lý của nhơn loại, tưởng tượng mà đặt tên chớ kỳ trung không có ông Phật ông Trời chi tất cả.

Bậc người nầy có lẽ cũng tùng theo một giáo lý nào đó, đặng để cậy oai quyền ông Thần Chơn lý của họ đặt tên, đặng lợi dụng nhiều phương kín nhiệm, chớ thật ra chưa có đức tin nơi Đấng Chí Tôn mảy may chi hết. Ấy cũng là một kiểu Đạo.

Lấy lương tâm mà làm căn bổn cũng là một điều hay, còn chủ lương tâm dầu biết dầu không cũng cho là chẳng hại, nhưng mà chiếu theo Đạo pháp thì chưa ai định chủ phần hồn, chỉ tại nơi mình tự xử, mà mình tự xử lấy mình thì chưa hề có sự công bình chánh đáng đặng.

Ấy vậy, có một phần người cho rằng không có Trời có Đất chi hết.

Cơ sở của đời do tại lương tâm mà sản xuất, còn thi hài thì là còn hành động của trí lự, thi hài chết thì hết, cũng như cái vật bể nát hư hại thì chẳng còn hình, nên không nạp dụng đạo pháp nào cho là chánh lý, chỉ thờ hình thể cao thượng hữu vi, lấy sự phước hạnh thi hài làm mục đích.

Ấy, tệ đệ luận đến điều nầy, e khi chư Đạo hữu đau đớn thương tâm toan ứng thính hỏi rằng :

- Vậy chớ ai sanh ra họ mà họ toan từ chối ?

Rồi đây, chúng ta lại cứ cãi với nhau, cùng luận nầy ra luận kia, hết lý kia qua lý nọ, nói cho đến hết lời, chung trí cả toàn thiên hạ, cùng kim tận cổ, vạn quyển thiên kinh, cãi riết cho tới tận thế cũng còn cãi mà cũng không kết luận đặng chút nào.

Tại sao vậy ?

Tại mọi điều chi ta suy nghĩ, mọi việc chi ta kiến thức tại thế nầy đều sản xuất sau tánh đức Chí Linh và cơ Tạo hóa. Chí Tôn đã định cho trí lự của mình biết Người bấy nhiêu thì hay đặng bấy nhiêu. Người thì vô cùng vô tận, còn trí lự của mình lại đứng trong vòng hữu định, thì chúng ta có mong gì đủ thế thấu đáo cho hết tánh Người.

Tỷ như con vi trùng hay sên lãi ở trong bụng ta thì có phương nào ta vẽ hình ra cho trọn trúng.

Nếu cượng lý thì lại e cho mình phải chịu cái lầm của ếch đáy giếng vẽ Trời cao, Trời giống giếng, miệng tròn cùng miệng méo.

Vậy chư Đạo hữu cũng nên cho là một sự khó khăn quá trí khôn ngoan của người xét đoán, rồi cũng nên quảng đại bao dung để cho mỗi cá nhơn tự do tư tưởng.

Chư Đạo hữu đã may duyên gần đặng hình bóng của Chí Tôn, cậy bút Thánh cơ Thần giáo hóa. Ngọn cơ bút làm phương thân mật, lại cũng là một  máy nhiệm mầu, trí lự con người chẳng dễ chi cạn hiểu !

Ma ma, Phật Phật, quỉ quỉ, Trời Trời, lẽ chánh lý  tà  khó bề quyết định.

Nhiều kẻ gọi là ma, chúng ta gọi là Phật, chúng cho rằng quỉ, mình gọi là Trời. Hỏi cho đến tận nơi  thì chưa có một người trưng đủ cớ.

Chí Tôn lại nhiều phen để lời căn dặn rằng : Chúng ta phải để tâm dè dặt, cẩn thận giữ đức tin, lấy trí lực tinh thần đặng biệt phân chơn giả. Thầy lại nói rõ rằng, phải có một phần của kẻ Phò loan, Thầy mới gầy trọn phương mầu cơ bút.

Phải Chí Tôn hay là đồng ?

Phải Phật hay là đồng ?

Phải quỉ hay là đồng ?

Phải ma hay là đồng ?

Hư hư, thiệt thiệt, giả giả, chơn chơn, không phương phân biệt, vì phần nhiều chư Đạo hữu chưa hiểu thấu chơn truyền, cùng diệu pháp khó bề truyền dạy, thế nào thử đặng bút cơ, tránh sao khỏi những điều giả trá.

Rất đỗi là ngày Khai Đạo, quỉ còn dám nhập đàn, huống lựa là cơ bút liệng nghinh ngang mà không làm đường dẫn quỉ ?

Vì cớ mà Chức sắc Hiệp Thiên Đài của tệ đệ là những vị mà Thầy đến cậy phò loan đặng cho Người lập Đạo, đã chịu lắm nhục nhã hàm oan cũng vì  cơ bút.

Ấy vậy, cái đức tin của anh em ở nơi cơ bút cũng chưa đủ giá trị cùng đời, nên tệ đệ dặn một lời, xin gắng lấy cái quảng đại của Trời mà độ chúng.

Tệ đệ cũng vị tình chư Đạo hữu mà luận tánh của Chí Tôn cùng chư Đạo hữu tin theo cơ bút.

Nếu do lý thuyết của tôn giáo khác thì Trời vốn là Trời vô hình vô ảnh, quyền năng vô tận, muốn làm chi thì đặng nấy, hễ phán định thì thành hình. Cái quyền hành ấy tả ra không nổi nên làm rối trí khó tin.

Vậy thì tệ đệ trích lục nguyên văn của một Đấng thiêng liêng, trước vẫn đã tái kiếp bên Pháp triều làm nhà thi sĩ là ông Victor Hugo, là Nguyệt Tâm Chơn Nhơn tại Quảng Hàn Cung (Un grand esprit de la lune) giáng bút dạy tệ đệ về nguyên do của Chí Tôn và quyền hành Người đào tạo càn khôn cùng vạn vật.

 

            20 Avril 1930 (1 heure du matin).

Mes respects Hộ Pháp,

Ils sont en train de vous médire

Pour pousser derechef nos frères dans le pire.

Ils comptent à vous faire malheur,

Ils agrandiront, au contraire, votre honneur.

Oh ! qu’il est gênant d’être près des traỵtres !

Mais c’est juste pour eux qu’on est né Maỵtre.

            Hộ Pháp - Enfin passons,

            Poser moi vos questions.

 

HỘ PHÁP : - Je veux être instruit sur l’origine de

                   notre Maỵtre et sur sa puissance.

Il n’ est pas aisé de connaỵtre ce mystère,

L’enquête éternelle sur ce point n’est plus claire

Il peut bien avoir, d’ après mon avis,

D’ autres Univers que le nôtre, dans l’ infini.

Ils seraient plus ou moins énornes,

Mais la vie et les êtres auraient les mêmes  formes. 

L’ un de ceux-ci serait donc plus avancé,

Au point de vue d’ Esprits et d’ Humanité,  

A une étape, il ressemblerait bien au nôtre,

Avec le progrès, il deviendrait apôtre.

Dans tous ses Cieux, règnerait la Beauté.

Ses êtres auraient une grande part de Divinité.

La Paix et l’ Harmonie dirigeraient ses terres,

Ses créatures ignoreraient le mot Guerre.

Rien n’ est relatif, tout est absolu;

Des grandes âmes se rivaliseraient en vertu.

Toute production serait Science et Sagesse.

La force d’ âmes maỵtrise l’ humaine faiblesse,

Ses derniers mondes vivraient sans Loi,

L’ Union se ferait sous la Divine Foi.

La Mort serait vaincue par la haute conscience.

Morts et vivants n’ auraient pas de différence.

L’amour des êtres est partout proclamé,

Âmes et hommes seraient tous en sainteté.

Il y a chez nous, dans un certain monde,

Où cette sorte de vie est féconde.

Vous pourrez, un jour, apprécier sa  grande valeur,

Quand notre terre passera au degré supérieur.

 

HỘ PHÁP : - Quand la terre aura-t-elle ce profit ?

Pour que vous ayez conscience en votre mérite,

Je me servirai d’ une expression spirite.

Des purgatoires, elle débute au rang des bienheureux,

Il faudra longtemps pour qu’elle soit le pays des dieux.

Si l’on veut connaỵtre l’origine de notre Maỵtre,

Il faut qu’ on soit avec lui ou on le pénètre.

Aucun esprit n’ a une très nette opinion,

Bouddha lui-même ne fait que des suppositions.

Ne prenez pas mes instructions en importance,

Je ne répète que ce que les esprits y pensent.

Supposons que notre Créateur, à ses débuts,

Dans un de ces Univers, a vraiment vécu,

Son esprit devait faire aussi un long stage;

De la matière, il devenait homme et sage,

Dans les classes d’ Esprits, il passait les échélons;

Il entre enfin dans le mystère de la Création.  

Par ses vies successives, il a une puissance,

Qui le fait Maỵtre de la Sagesse et de la Science.

Il sait aussi s’ entourer des meilleurs esprits,

Qui forment sa Cour de serviteurs et d’amis.

Une fois que son Ciel avait assez de force,

Il parcourait l’ infini avec son escorte.

 

HỘ PHÁP : - Il avait donc un Ciel à lui ?

Oui, chacun de nous a un domaine défini,

Que nous fabriquions avec notre force d’esprit.

Âmes et êtres provenant de notre  état  karmique,

Forment ainsi notre ciel ou notre république.

Ceux qui le peuplent ne nous sont guère fidèles,

Beaucoup d’ entre nous viennent de notre erreur originelle.

Tant qu’ on néglige ses secrets de purification,

Tant qu’on ouvre son ciel à ces terribles démons

D’ où vient alors notre Satan, le grand diable,

Si nous cherchions la Vérité et non les fables,

Il provient suârement du cortège divin,

Que notre Créateur n’a pu le rendre vraiment saint.

Il est donc de règle que nos proches nous trahissent

Par jalousie, par envie ou par purs caprices.

Vous avez, Hộ-Pháp, une crampe à la main,

Renvoyons notre causerie pour demain.

 

            21 Avril 1930

Savez-vous que les mêmes médisances se continuent,

Maintenant notre Divin Maỵtre est porté en vue

Ne vous souciez pas des méchantes gens;

Ils se reviendront quand ils auront du bon sens.

Je continue mon point de vue sur la genèse,

Tout en respectant ceux qui vous plaisent.

Il arrive alors dans un endroit ténébreux.

Stagnant, tranquille, paisible que rien ne meut,

Dans un gaz qui n’est ni vapeur ni liquide,

Dorment des germes à un sommeil léthargique;

Enveloppé enfin dans un effroyable froid.

Nulle créature ne vit, nulle matière ne croỵt.

 

HỘ PHÁP : - Est-ce bien la forme de l’eau parlée dans

                   la genèse chrétienne ?

Oui, c’est cette sorte de gaz qu’ on appelle hydrogène,

Plus ou moins dense qui fait la partie la plus saine.

Dire que l’ Esprit de Dieu nage au-dessus des eaux.

C’ est à ce sens qu ’il faut comprendre le mot.

Avec son astral qui est de lumière,

Il anime par sa chaleur ces inertes matières.

Une couche d’oxygène produit, se met en action.

Le contact des deux gaz donne une détonation;

Le feu divin est né et l’eau sacrée se forme,

Sous l’ effet des  deux éléments  tout  se transforme :

Des matières bruâlées forment des gaz, des gaz bruâlés,

Produisent des fluides, des fluides purs sont vitalité.

La dite vitalité a une puissance,

Se donner aux esprits la mort et la naissance.

Quelles merveilles qu’ elle nous a fait constater,

Quels mystères qu’ elle ira  encore nous conserver ?

Tout ce qui vient de la main de notre Maỵtre,

Il nous est bien difficile d’ en connaỵtre.

Ce feu divin alimenté, s’ est agrandi,

Jette ses nébuleuses jusqu’ à l’infini.

Dans tout l’Univers ce feu se sème;

Il se répartit tant qu’il se décompose lui-même.

Ses nébuleuses s’agrandissent sous forme de soleils,

Créent des mondes et des mondes avec tous leurs détails

Où la conscience de Dieu et sa lumière anime,

Les êtres sont tous pénétrés, mêmes les plus infimes.

L’ esprit divin s’ est répandu partout,

Ceux qui ont vie proviennent de ce Tout.

De ces fluides rayonnées de sa divine lumière,

Les plus impurs se métamorphosent en pierres,

En terres, en végétaux, en animaux ou en chair;

Les plus denses en air et les purs en éther.

L’ intellect est donc donné à toutes créatures,

Suivant leurs états, une dose plus ou moins pure.

L’ âme est ainsi créée, tandis que le corps,

C’ est la vitalité qui détermine leurs sorts.

Vous avez compris le reste,

            C’ est ici que je m’ arrête.

 

HỘ PHÁP : - Pardon, si tout vient de notre Maỵtre,

                   tout doit être parfait. Pourquoi pouvons-

                   nous encore constater les imperfections

                   de la nature ?

Quelles sont ces imperfections ?

Pourrai-je vous donner des explications ?

 

HỘ PHÁP : - La méchanceté et l’inutilité des êtres.

                   Aussi  bien les hommes que les animaux

                   ou les végétaux, leur morale ne peut être

                   raisonnablement appréciée.

Rien n’ est méchant ou inutile dans la nature,

Por se conserver, il faut la nourriture.

Notre Bon Dieu aime ardement ses enfants.

Dans son grand amour, il leur procure des moyens.

Pour leur progrès, il leur crée des souffrances;  

Il leur faut également des moyens de défense.

Avez-vous vu en ce monde un homme vraiment pieux ?

S’ils sont méchants pour nous, ils sont utiles pour eux !

Comment peuvent devenir nos grands sages ?

Que contient l’histoire humaine dans ses pages?

Une lutte acharnée entre faibles et puissants,

Les plus forts sont souvent les plus grands.

L’opposition des deux donne la marche ascendante,

Des idées et des réalisations savantes.

Notre cher monde est purement relatif,

Méchants et inutiles ne sont que qualificatifs.

Sur ce globe, chacun de nous a une place;

Les mondes des autres cieux sont des classes.

L’ Univers est donc une école pour les esprits,

Qui la fréquentent pour être encore plus érudits.

Ceux qui font souvent l’école buissonnière,

Doivent doubler leurs années et reprennent leurs matières.

Toutes les âmes espèrent lire ce livre éternel,

Qui contient le secret à se faire immortel.

Le but est d’ achever notre rude carrière;

Il faut de temps, des conditions  et  des  manières.

De l’ immonde matière à la pure divinité,

On fait son chemin en tenant l’éternité.

Le résultat est d’ apprendre à se connaỵtre,

Et connaỵtre ensuite, par conscience, l’ Homme qui doit être.

La différence des caractères a sa raison,

Elle  nous aide à faire la comparaison.

Mettez une large tolérance dans vos études,

Classez les esprits suivant leurs aptitudes.

Séparez simplement ceux qui sont humains,

De ceux qui sont déjà un peu divins.

Donnez au sacerdoce des meilleurs modèles,

Enseignez par tous vos moyens vos infidèles,

Ne les détestez pas parce qu’ ils sont infâmes.

Et ne regardez que le salut de leurs âmes !

Aimez toujours pour donner à L’ Humanite,ù

Ces deux Vérités : AMOUR  et  ÉTERNITÉ.

 

Tệ đệ xin lược dịch ra đây, nhờ mấy vị cao minh chỉnh lại giùm những điều sai sót :

 

Ngày 20 tháng 4 năm 1930 (1 giờ khuya).

Kính chào Hộ Pháp,

Người đương xúm nói hành quí vị,

Dục chư huynh quá lý từ đây.

Tưởng là mưu hại đặng Ngài,

Nào dè xúm đỡ danh Ngài thêm cao.

Gần kẻ phản  biết bao khó chịu,

Gẫm thật ra bởi đấy mình Thầy,

Thôi thì ta cũng bỏ khuây,

Hỏi chi xin khá tỏ bày cùng tôi.

 

HỘ PHÁP : - Xin cho tôi hiểu nguyên thỉ của Thầy

                   chúng ta và quyền hành của người.

Hiểu cho đặng huyền vi khó nổi,

Tra khuôn hồng tỏ mối không minh.

Theo tôi nghĩ  thế giới mình,

Ngoài ra còn có lắm hình càn khôn.

Nhiều thế khác biệt phân lớn nhỏ,

Sinh tồn loài vật  rõ  y nhau.

Một ngôi nào đó nên cao,

Về thần hồn với về loài nhơn sanh.

Cũng có lúc giống mình như hệt,

Tấn hóa nâng khí phách nên hiền.

Máy trời đẹp vẻ thiên nhiên,

Vật loài đều hưởng trọn quyền Chí Linh.

Các địa quả thái bình an tịnh,

Cả chúng sanh dốt tánh can qua.

Tương đối dứt, tuyệt đối ra,

Chơn hồn tranh đấu về khoa tánh lành.

Sanh chi cũng ngoan minh cách trí,

Quyền linh hồn chủ quỉ phàm tâm.

Thế hèn luật cũng không cần,

Tương thân chỉ cậy nhờ phần đức tin.

Cái chết bị tâm linh đánh bại,

Sống chết dường trái phải không phân.

Thương sanh truyền phép xa gần,

Hồn và người vốn Thánh Thần hiển nhiên.

Nhiều thế giới càn khôn ta có,

Sanh hoạt nầy quả cớ nên nhiều,

Địa cầu chừng đặng cao siêu,

Các Ngài rõ giá những điều phân phô.

 

HỘ PHÁP : - Chừng nào trái địa cầu nầy đặng hưởng điều ấy ?

       Thần linh dụng tiếng làm Ngài hiểu,

Cho tỏ tường phẩm hiệu dường bao.

Qua luyện tội Thánh cảnh vào,

Còn lâu nữa mới làm trào Phật Tiên.

Muốn biết đặng căn nguyên Từ Phụ,

Ở cùng người hoặc đủ hiểu Người.

Chẳng hồn nào quyết định lời,

Thích Ca thì cũng để lời phỏng ngôn.

Chớ coi trọng lời tôi bày tỏ,

Tôi thuật lời tưởng ngỡ như linh.

Tỷ như lúc trước Chí Linh,

Có sanh ở một cảnh hình càn khôn.

Người cũng đứng phẩm hồn hậu bổ,

Vật nên người, người trở nên Hiền.

Lần hồi lên phẩm thiêng liêng,

Khai Thiên người mới đoạt quyền Chí Linh.

Đã chịu lắm sinh sinh tử tử,

Đủ huyền linh làm chủ trí khôn.

Lại hay thâu phục chơn hồn,

Đặng làm Thần đệ vĩnh tồn triều nghi.

Đài Thiên cảnh vừa khi đặng lớn,

Dắt triều đình vào chốn không trung.

 

HỘ PHÁP : - Vậy chớ khi ấy Người đã có Thiên cung

                   riêng của Người rồi hay sao ?

Phải mỗi đứa riêng trong cảnh giái,

Của chúng ta tạo tại linh hồn.

Hồn, người, do bởi giác hồn,

Tạo nên cảnh giới cộng làm chánh chung.

Trong các Đấng lòng trung vẫn ít,

Phần đông do kẻ nghịch oan khiên.

Tu chơn bỏ máy diệu huyền,

Thì ta mở lối cảnh Thiên quỉ vào.

Quỉ vương hỏi nơi nào mà đến,

Cứ tầm chơn đừng đếm giả truyền,

Chắc do trong đám triều Thiên,

Chí Linh khó sửa cho tuyền Thánh tâm.

Ta hằng bị tình thâm phản nghịch,

Đố kỵ, cùng vui thích hại ta.

Hộ Pháp, tay Ngài tê quá thay là,

Đêm mai tôi tiếp nói qua việc nầy.

 

Ngày 21 tháng 4 năm 1930 (10 giờ tối).

Lời ác cảm ngày nay còn tiếp,

Bây giờ đây cậy pháp danh Thầy.

Đừng lo kẻ dữ làm chi,

Biết khôn đó cũng có ngày ăn năn.

Tôi tiếp chuyện khai Thiên tôi nhận,

Cũng kỉnh phương học vấn của Ngài.

Chí Tôn tới chốn dạ đài,

Bình an phẳng lặng không loài động sanh.

Trong thứ khí không danh mây nước,

Vật chất sanh ngủ ước vô chừng.

Hào quang bao phủ mấy vầng,

Vật không biến hóa, thú ngừng không sanh.

 

HỘ PHÁP : - Thưa phải là hình ảnh của nước trong

Sám truyền đạo Thánh đã có nói đó hay không ?

Phải thứ khí kêu danh thủy khí,

Đông đặc nhiều xem kỹ đứng đầu.

Rằng Trời mặt nước ngự chầu,

Thì là phải hiểu cao sâu thế nầy.

Chơn thần người dẫy đầy ánh sáng,

Lấy dương quang ấp đảng vô năng,

Sanh lằn hỏa khí bao giăng,

Âm Dương tương khắc nổ lằn Thiên thinh.

Thái Cực nở với hình nguơn thủy,

Hai quyền năng dục khí hóa cơ.

Vật tiêu hóa khí, khí nhơ,

Tiêu thành nguơn khí bấy giờ sanh quang.

Khí sanh quang ấy toàn linh cảm,

Định linh hồn chết sống nơi tay.

Dị thường sanh hóa rất hay,

Sau nầy ta cũng thấy hoài huyền linh.

Vật chi tại tài tình Sư Phụ,

Ta không phương hiểu thấu cho cùng.

Lửa Thái Cực lớn vô chừng,

Rảy cùng thế giới muôn trùng hỏa tinh.

Phân phát quá rồi hình phải tuyệt,

Cùng càn khôn rảy riết không ngằn.

Hỏa tinh lớn hóa nhựt quang,

Nhựt tinh nguội lập cả hàng thế gian.

Nơi nào ánh linh quang chiếu diệu,

Vạn vật toàn đại tiểu đều thông.

Chí Linh tánh đức bao trùm,

Hữu sanh ai cũng do cùng Nhứt Linh.

Các nguơn khí ánh linh chiếu thấu,

Chi trược ngưng thứ xấu biến thạch hình.

Thổ, mộc, thú, nhơn, vạn linh,

Bán thanh sanh khí, thanh thành hạo nhiên.

Khối linh cảm ban tuyền vạn loại,

Tùy theo hàng phẩm thảy vừa chừng,

Hồn linh sanh hưởng hồng ân,

Còn bên thể phách về phần sanh quang.

Ngài đủ rõ hành tàng sót lại,

Tới đây tôi đành phải ngưng văn.

 

HỘ PHÁP : - Kiếu lỗi Ngài, nhưng quả mọi việc đều do nơi Sư Phụ thì tức nhiên nó phải tận thiện tận mỹ mới phải, cớ sao chúng tôi lại còn thấy đặng nhiều điều sai sót của cơ Tạo hóa vậy ?

Những  điều chi sơ sót gọi rằng,

Hoặc khi tôi có cớ bằng giải khuyên.

 

HỘ PHÁP : - Sự hung ác và sự vô ích của cả loài người loài vật và thảo mộc. Cái tánh đức của vạn loại

khó lấy trí khôn người mà định khen cho đặng.

Không vô ích dữ hiền mặt thế,

Sống phải toan kiếm kế nuôi thân.

Chí Tôn con cái đều cần,

Lòng thương kia phải dành phần lợi sanh.

Cho tấn hóa, người hành đau thảm,

Người phải cho mô phạm bảo thân.

Dưới đời mấy mặt hiền nhân,

Với ta gọi dữ họ cần ích riêng.

Sao đặng tiếng Thánh hiền các Đấng,

Sử nhơn gian nào chứng chép ghi.

Đấu tranh mạnh yếu thường khi,

Xem ra thấy mạnh cũng thì phần hơn.

Lẽ mạnh yếu thiệt hơn chiến đấu,

Nâng trí mưu cơ xảo nên hay.

Cảnh phàm tương đối là đây,

Dữ, vô dụng, ấy là lời bia danh.

Nơi hoàn võ  cá nhân có chỗ,

Các Trời kia lớp ngõ học đường.

Càn khôn thế giới là trường,

Chư hồn đến học cho thường mới hay.

Kẻ nào nhẫng bỏ bài trốn mãi,

Không  đặng lên, học lại bài xưa.

Các hồn ai cũng mến ưa,

Sách thiêng liêng đọc mấy tờ vĩnh sanh.

Ai cũng ước công thành danh toại,

Phải nhiều thời nhiều phép nhiều kinh.

Vật hèn tới phẩm tối linh,

Con đường đi biết mấy nghìn thời gian.

Chung cuộc hiểu hành tàng ta đã,

Sau mới tường căn quả Chí Linh.

Biệt phân đẳng cấp tánh linh,

Là phương dành để cho mình sánh cân.

Trong học thức Ngài cần quảng đại,

Phân tánh người tùy cái tài ba.

Đem người phàm tánh cho ra,

Ngoài vòng Thánh chất, chánh tà phân minh.

Lấy gương tốt để dành Hội Thánh,

Năng dạy khuyên các nhánh bất trung.

Đừng thèm ghét kẻ gian hùng,

Coi phần hồn trọng độ giùm là hay.

Cứ thương mãi đặng cho nhơn loại,

Chơn lý kia cạn giải đôi lời :

TỪ BI, BÁC ÁI và TRỜI.

 

Nếu chúng ta để trí mà suy hiểu bài văn nầy thì chưa một Đấng thiêng liêng nào đã thấu đáo nguơn thỉ của Chí Tôn cho trọn vẹn, dầu Đức Thích Ca cũng để lời phỏng tưởng mà thôi.

Vậy nếu chúng ta muốn hiểu biết hơn nữa mà để luận thì chúng ta chẳng khỏi bị tội tự kiêu, tặng mình thông minh cao kiến còn hơn Tiên Phật.

Chúng ta lại hiểu đặng lời bí mật của Chí Tôn dạy rằng : “ Thầy là các con, các con là Thầy, và lời thương yêu vô tận là : Cho các con tấn hóa đến ngang bực cùng Thầy, hay là Thầy lại hạ mình cho các con còn cao hơn nữa.

Ôi !  Cái từ tâm ấy kể sao cho xiết. Càng suy gẫm càng đem lòng thương yêu quá đỗi.

Tài bao nhiêu cũng muốn sang cho nhơn loại, phép bao nhiêu cũng muốn sớt cho chúng sanh, lòng dạ Chí Linh nghĩ thôi quá đỗi, dầu gặp phải tay kẻ nghịch cùng mình cũng cam chịu lấy.

Hèn chi cái tánh chất làm Cha của con người cũng phải tùng theo khuôn linh đã định vậy.

Nhọc cũng không nài, khổ không biết kể, chỉ trông mong cho con khôn lớn, đủ trí khôn ngoan, đặng nắm giữ nghiệp nhà, nhiều phen chẳng kể phận già, miễn cho trẻ cao danh trọng vị.

Một ngày kia, tệ đệ hỏi Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn rằng :

- Phàm hễ là Cha thì làm Cha, còn làm Thầy thì làm Thầy, chớ sao Đại Từ Phụ lại xưng là Thầy rất nên khó hiểu ?

Ngài trả lời như vầy :

Il est même temps Père et Maỵtre,

Parce que c’ est de LUI vient tout notre être.

Il nourrit notre corps de ce qui est sain,

Et fabrique notre esprit de ce qui est divin.

En LUI tout est Science et Sagesse;

Le progrès de l’ âme est son oeuvre sans cesse,

Les viles matières sont joyaux à ses yeux;

De vils esprits, IL en fait des dieux.

Sa Loi est Amourr, sa Puissance est Justice.

IL ne connaỵt que la vertu et non le vice,

PÈRE : IL donne à ses enfants sa VITALITÉ,

MAỴTRE :  IL leur lègue sa propre DIVINITÉ.

 

Dịch nôm :

Người cũng vẫn Cha Thầy luôn một,

Cả chơn linh hài cốt tay Người.

Nuôi mình dùng vật thanh tươi,

Tạo hồn lấy phép tột vời Chí Linh.

Nơi Người vốn quang minh cách trí,

Tấn hóa hồn phép quí không ngưng.

Vật hèn trước mắt thành trân,

Hồn hèn Người lại dành phần Phật Tiên.

Luật thương yêu, quyền là ngay chánh,

Gần thiện căn xa lánh phàm tâm.

Làm Cha nuôi sống âm thầm,

Làm Thầy lại nhượng phẩm Thần ngôi Thiên.



Xem dưới dạng văn bản thuần túy.
Lượt xem: 953