× Trang chủ Tháp Babel Phật giáo Cao Đài Chuyện tâm linh Nghệ thuật sống Danh bạ web Liên hệ

☰ Menu
Trang chủ » Phật giáo » Kinh điển

Kinh Đại Niết Bàn



Quyển thứ 31: Phẩm thứ 24: Bồ Tát Ca Diếp (1)

  Phần thứ I. - Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng :

            - Thưa đức Thế Tôn ! Ðức Như Lai thương xót tất cả chúng sinh. Người chẳng điều phục có thể điều phục, người bất tịnh có thể làm cho tịnh, người không qui y có thể làm qui y, người chưa giải thoát có thể khiến cho giải thoát, được vào tám tự tại, làm Ðại y sư, làm Ðại Dược Vương. Tỳkheo Thiện Tinh là đệ tử của đức Phật, khi làm Bồ tát, sau khi xuất gia, thọ trì, đọc tụng, phân biệt, giải nói mười hai bộ Kinh, hoại tan kết sử cõi Dục, thu hoạch được bốn thiền mà sao đức Như Lai huyền ký rằng, Thiện Tinh chính là nhất xiển đề, người thấp hèn, ở địa ngục suốt kiếp, người chẳng thể sửa trị ? Ðức Như Lai vì sao  chẳng trước vì ông ấy diễn nói chính pháp, rồi sau mới vì Bồ tát ? Ðức Như Lai Thế Tôn nếu chẳng thể cứu Tỳkheo Thiện Tinh thì làm sao được gọi là đấng có đại từ mẫn, có đại phương tiện ?

            Ðức Phật dạy rằng :

            - Này thiện nam tử ! Ví như cha mẹ chỉ có ba người con. Người con thứ nhất ấy có lòng tín thuận, cung kính cha mẹ, căn tính linh lợi, có trí tuệ, đối với việc thế gian có thể mau biết rõ. Người con thứ hai ấy chẳng kính cha mẹ, không lòng tín thuận, lợi căn, trí tuệ, đối với việc thế gian có thể mau rõ biết. Người con thứ ba ấy chẳng  kính cha mẹ, không lòng tín thuận, căn tính ám độn, không có trí tuệ. Cha mẹ nếu khi muốn dạy bảo chúng thì nên dạy ai trước ? Thân ái với ai trước ? Phải trước dạy cho ai biết việc thế gian ?

            Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng :

            - Thưa đức Thế Tôn ! Nên trước dạy trao cho người con có lòng tín thuận, cung kính cha mẹ, lợi căn, trí tuệ, hiểu biết việc đời. Tiếp theo dạy đến người con thứ hai, rồi mới đến người con thứ ba. Nhưng mà hai người con kia tuy không có lòng tín thuận cung kính nhưng vì từ niệm nên tiếp theo phải dạy bảo họ !

            - Này thiện nam tử ! Như Lai cũng vậy ! Ba người con kia, người đầu tiên là dụ cho Bồ tát, người ở giữa là dụ cho Thanh Văn, người sau cùng là dụ cho nhất xiển đề. Như ý nghĩa vi tế trong các Kinh của mười hai bộ Kinh, ta trước đã vì các Bồ tát mà nói. Ý nghĩa thiển cận của Kinh thì ta vì hàng Thanh Văn mà nói. Còn ý nghĩa thế gian thì ta vì bọn nhất xiển đề, ngũ nghịch tội mà nói. Trong đời hiện tại tuy không có lợi ích nhưng do lòng thương xót nên làm phát sinh những chủng tử (hạt giống) thiện cho đời sau. Này thiện nam tử ! Như có ba thứ ruộng : Một là ruộng có kênh mương lưu thông tiện lợi dễ dàng, không có những cát, đất mặn, sành, đá, gai góc... thì gieo trồng một thu được cả trăm. Hai là ruộng tuy không có cát, đất mặn, sành đá, gai góc nhưng kênh mương hiểm trở khó khăn thì thu hoạch kết quả giảm đi một nửa. Ba là ruộng mà kênh mương hiểm trở khó khăn, có nhiều cát, đất mặn, sành, đá, gai góc thì gieo trồng một, chỉ thu hoạch được một là cỏ khô. Này thiện nam tử ! Người nông phu, trong tháng mùa Xuân, trước nên gieo trồng ruộng nào?

            - Thưa đức Thế Tôn ! Trước họ nên gieo trồng ở ruộng đầu tiên, tiếp đến là ở ruộng thứ hai, rồi sau mới đến loại ruộng thứ ba.

            - Ruộng đầu tiên là dụ cho Bồ tát, ruộng tiếp theo là dụ cho Thanh Văn, ruộng sau cùng là dụ cho nhất xiển đề. Này thiện nam tử ! Ví như ba cái đồ đựng : một cái lành lặn (hoàn hảo), cái thứ hai bị rò rỉ, cái thứ ba bị vỡ. Nếu muốn đựng đầy sữa, cao sữa, ván sữa, nước thì trước dùng cái nào?

            - Thưa đức Thế Tôn ! Nên dùng cái lành lặn, tiếp đến dùng cái rò rỉ, sau mới dùng đến cái bị vỡ !

            - Cái lành lặn sạch sẽ ấy là dụ cho Bồ tát tăng, cái rò rỉ là dụ cho Thanh Văn, cái bị vỡ là dụ cho nhất xiển đề. Này thiện nam tử ! Như có ba người bệnh đều đi đến chỗ thầy thuốc : Một người dễ điều trị, người thứ hai khó điều trị, người thứ ba thì chẳng thể điều trị. Này thiện nam tử ! Thầy thuốc nếu trị thì phải trị ai trước ?

            - Thưa đức Thế Tôn ! Nên trước điều trị cho người dễ, tiếp đến là người thứ hai, sau mới đến người thứ ba. Vì sao vậy ? Vì là thân thuộc.

            - Người dễ trị ấy là dụ cho Bồ tát tăng. Người khó trị ấy là dụ cho Thanh Văn tăng. Người chẳng thể trị là dụ cho nhất xiển đề. Với hạng người này trong đời hiện tại tuy không kết quả tốt nhưng vì thương xót nên ta vì họ gieo trồng những hạt giống lành cho đời sau. Này thiện nam tử ! Ví như vị đại vương có ba giống ngựa. Một là ngựa đã điều phục trẻ khỏe đầy sức mạnh. Hai là ngựa chẳng điều phục, trẻ khỏe, nhiều sức mạnh. Ba là ngựa chẳng điều phục, gầy yếu, già cả, không có sức. Nhà vua nếu cưỡi ngựa thì phải cưỡi con nào trước ?

            - Thưa đức Thế Tôn ! Nên cưỡi con ngựa điều phục trẻ khỏe nhiều sức mạnh, tiếp đến cưỡi con thứ hai, sau mới cưỡi đến con thứ ba.

            - Này thiện nam tử ! Con ngựa điều phục trẻ khỏe nhiều sức mạnh là dụ cho Bồ tát tăng, con ngựa thứ hai là dụ cho Thanh Văn tăng, con ngựa thứ ba là dụ cho nhất xiển đề. Trong đời hiện tại hạng người này tuy không có ích lợi nhưng vì thương xót nên ta vì họ gieo trồng hạt giống lành cho đời sau. Này thiện nam tử ! Như khi đại thí (làm bố thí lớn) có ba người đến : Một là người quí tộc, thông minh, trì giới. Hai là người thuộc dòng họ bậc trung, độn căn, trì giới. Ba là người thuộc dòng họ thấp hèn, độn căn, hủy giới. Này thiện nam tử ! Vị đại thí chủ này nên trước bố thí cho ai ?

            - Thưa đức Thế Tôn ! Nên trước bố thí cho người quí tộc, lợi căn, trì giới, tiếp đến là người thứ hai, rồi sau mới đến người thứ ba.

            - Người thứ nhất dụ cho Bồ tát tăng, người thứ hai dụ cho Thanh Văn tăng, người thứ ba dụ cho nhất xiển đề. Này thiện nam tử ! Như con sư tử lớn khi giết chết con hương tượng phải dùng hết sức của nó, giết chết một con thỏ cũng vậy, chẳng sinh ý tưởng khinh thường. Các đức Phật Như Lai cũng lại như vậy, khi vì các Bồ tát và nhất xiển đề diễn nói pháp dùng công đức không hai (không khác nhau).

            Này thiện nam tử ! Vào một thuở, ta trụ ở thành Vương Xá, Tỳkheo Thiện Tinh là cấp sứ (người sai khiến, cung cấp) của ta. Ở đầu đêm, ta vì trời Ðế Thích diễn nói pháp yếu. Theo phép làm đệ tử là nên ngủ sau thầy. Bấy giờ, do ta ngồi lâu nên lòng Thiện Tinh sinh ra ý niệm ác. Trẻ con trai gái của thành Vương Xá thời đó nếu khóc không nín thì cha mẹ hay dọa rằng : “Nếu con chẳng nín thì sẽ đem con giao cho quỉ Bạc câu la !” Bấy giờ, Thiện Tinh trái lại nắm lấy lời ấy mà nói với ta rằng : “Hãy mau vào thiền thất ! Quỉ Bạc câu la đến !”. Ta nói rằng : “Này người ngu si ! Ông thường chẳng nghe, Như Lai Thế Tôn chẳng sợ gì sao ?”. Bấy giờ, Ðế Thích liền nói với ta rằng : “Thưa đức Thế Tôn ! Những người như vậy cũng lại được vào trong Phật pháp sao ?”. Ta liền nói rằng : “Này Kiều Thi Ca ! Người như vậy được vào Phật pháp, cũng có Phật tính, sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ta tuy vì ông Thiện Tinh này nói pháp mà ông đó đều không có lòng tín thọ”. Này thiện nam tử ! Vào một thuở, ta ở tại thành Thi Bà Phú La của nước Ca Thi, Tỳkheo Thiện Tinh là cấp sứ của ta. Khi ta muốn vào thành đó khất thực có vô lượng chúng sinh lòng trống không, khao khát, ngưỡng mộ muốn thấy dấu chân của ta thì Tỳkheo Thiện Tinh liền theo sau ta mà hủy diệt. Ông ấy đã chẳng thể xóa hết mà còn khiến cho chúng sinh sinh lòng bất thiện. Ta vào thành rồi, ở quán rượu, thấy một Ni Kiền gò lưng ngồi chồm hỗm dưới đất ăn bã rượu. Tỳkheo Thiện Tinh thấy rồi mà nói rằng : “Thưa đức Thế Tôn ! Thế gian nếu có A la hán thì người này là tối thắng. Vì sao vậy ? Vì người này đã nói rằng, không nhân không quả”. Ta nói rằng : “Này người ngu si ! Ông có thường nghe, A la hán thì chẳng uống rượu, chẳng hại người, chẳng lừa dối, chẳng trộm cắp, chẳng dâm dục. Còn như người này giết hại cha mẹ, ăn nuốt bã rượu thì làm sao mà nói là A la hán ? Người này sau khi xả thân nhất định sẽ rơi vào địa ngục A Tỳ còn A la hán đoạn tuyệt vĩnh viễn ba đường ác thì làm sao mà nói là A la hán?”. Thiện Tinh liền nói rằng : “Tính của bốn đại còn có thể chuyển dịch nhưng muốn khiến cho người này nhất định rơi vào ngục A tỳ thì không có điều đó”. Ta nói rằng : “Này người ngu si ! Ông thường chẳng nghe lời nói thành thật của các đức Phật Như Lai không có hai !”. Ta tuy vì ông Thiện Tinh này nói pháp mà ông đó tuyệt không có lòng tín thọ. Này thiện nam tử ! Vào một thuở, ta cùng với Tỳkheo Thiện Tinh trụ ở thành Vương Xá. Bấy giờ, trong thành có một Ni Càn tên là Khổ Ðắc, thường nói rằng : “Phiền não của chúng sinh không nhân không duyên. Giải thoát của chúng sinh cũng không nhân không duyên”. Tỳkheo Thiện Tinh lại nói rằng : “Thưa đức Thế Tôn ! Thế gian, nếu có A la hán thì Khổ Ðắc là bậc trên”. Ta nói rằng : “Này người ngu si ! Ni Càn Khổ Ðắc thật chẳng phải là La Hán, chẳng thể hiểu rõ đạo A la hán !”. Thiện Tinh lại nói rằng : “Vì sao La Hán đối với A la hán mà sinh ra tật đố (ganh ghét) ?”. Ta nói rằng : “Này người ngu si ! Ta đối với La hán chẳng sinh ra tật đố mà ông tự sinh ra tà kiến ác vậy. Nếu nói Khổ Ðắc là La hán thì sau bảy ngày sẽ bị bệnh túc thực (đồ ăn lưu lại không tiêu hóa), đau bụng mà chết, chết rồi sinh vào loài quỉ Thực Thổ (ói đồ ăn ra). Bọn đồng học của ông ấy sẽ đem thi thể ông ấy bỏ trong rừng lạnh”. Bấy giờ Thiện Tinh liền đi đến chỗ của Ni càn tử Khổ Ðắc nói rằng : “Thưa trưởng lão ! Ngài nay có biết gì không ? Ông sa môn Cù Ðàm đã huyền ký cho ngài sau bảy ngày sẽ bị bệnh túc thực, đau bụng mà chết, chết rồi sinh vào trong loài quỉ Thực Thổ. Những người đồng học, đồng sư sẽ đem thi thể của ngài bỏ trong rừng lạnh. Thưa trưởng lão ! Ngài hãy tư duy khéo léo tạo mọi phương tiện tốt thì sẽ khiến cho ông Cù Ðàm rơi vào trong tình trạng nói dối !”. Bấy giờ, ông Khổ Ðắc nghe lời đó xong thì liền nhịn ăn (đoạn thực) từ bắt đầu ngày một cho đến ngày sáu. Ðủ bảy ngày rồi ông liền ăn đường đen. Ăn đường đen (hắc mật) rồi lại uống nước lạnh. Uống nước lạnh rồi đau bụng mà mạng chung. Ông chết rồi bạn đồng học đem thi hài ông để trong rừng lạnh. Ông liền thọ hình thể loài quỉ đói Thực Thổ ở bên thi hài của mình. Tỳkheo Thiện Tinh nghe việc này rồi, đi đến trong rừng lạnh, thấy Khổ Ðắc thọ thân hình loài quỉ Thực Thổ ở tại bên thi hài của ông ấy, đang khom lưng ngồi xổm trên đất. Thiện Tinh nói với ông ấy rằng: “Thưa đại đức ! Ngài chết rồi sao ?”. Khổ Ðắc đáp rằng : “Ta đã chết rồi !”. Hỏi : “Vì sao chết vậy ?”. Ðáp : “Nhân đau bụng mà chết !”. Hỏi : “Ai đưa thi hài ngài ra đây ?”. Ðáp rằng : “Bạn đồng học đưa ra !”. Hỏi : “Ðặt ở đâu ?”. Ðáp rằng : “Người ngu si ơi ! Ông nay chẳng biết rừng lạnh này sao?”. Hỏi : “Ðược thân gì ?”. Ðáp rằng : “Ta được thân của loài quỉ Thực Thổ ! Này Thiện Tinh! Ông đã lắng nghe lời thiện, lời đúng lúc, lời nghĩa, lời pháp... Này Thiện Tinh ! Miệng Như Lai nói ra lời chân thật như vậy mà ông lúc bấy giờ sao chẳng tin ? Nếu có chúng sinh chẳng tin lời nói chân thật của Như Lai thì người đó cũng sẽ thọ thân này như ta !”. Bấy giờ Thiện Tinh liền trở lại chỗ của ta mà nói rằng : “Thưa đức Thế Tôn ! Ni Càn Khổ Ðắc sau khi mạng chung sinh lên trời Ba mươi ba”. Ta nói rằng : “Này người ngu si ! A la hán thì không có chỗ sinh làm sao mà nói Khổ Ðắc sinh lên trời Ba mươi ba ?”. Thiện Tinh nói : “Thưa đức Thế Tôn ! Thật đúng như lời ngài, Ni Càn Khổ Ðắc thật chẳng sinh lên trời Ba mươi ba mà nay đang thọ thân của loài quỉ đói Thực Thổ !”. Ta nói rằng : “Này người ngu si ! Lời nói thành thật của các đức Phật Như Lai không hai. Nếu nói rằng, Như Lai có nói hai lời thì không có điều đó !” Thiện Tinh liền nói rằng : “Lúc ấy đức Như Lai tuy nói lời nói đó nhưng con đối với việc này đều chẳng sinh niềm tin tưởng”. Này thiện nam tử ! Ta cũng thường vì Tỳkheo Thiện Tinh nói pháp chân thật mà ông đó tuyệt nhiên không có lòng tín thọ. Này thiện nam tử ! Tỳkheo Thiện Tinh tuy lại đọc tụng mười hai bộ Kinh, thu hoạch được bốn thiền... nhưng thậm chí chẳng hiểu được ý nghĩa của một bài kệ, một câu, một chữ lại còn gần gũi bạn ác làm thoái mất bốn thiền. Mất bốn thiền rồi thì sinh ra tà kiến ác, ông ấy nói lên lời như vầy : “Không Phật, không Pháp, không có Niết Bàn ! Ông Sa môn Cù Ðàm giỏi biết phép xem tướng nên có thể được biết tâm của người khác !”. Ta vào lúc ấy, bảo Thiện Tinh rằng : “Lời nói pháp của ta thì đầu tiên tốt, khoảng giữa tốt và về sau cũng tốt. Lời nói ấy xảo diệu, chữ nghĩa chân chính. Lời nói không xen tạp thành tựu đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh !” Tỳkheo Thiện Tinh lại nói rằng : “Ðức Như Lai tuy lại vì con nói pháp mà con chân thật cho là không có nhân quả !”. Này thiện nam tử ! Nếu ông chẳng tin việc như vậy thì hiện nay Tỳkheo Thiện Tinh ở gần sông Ni Liên Thiền, có thể đi chung đến hỏi !

            Bấy giờ đức Như Lai liền cùng với Bồ tát Ca Diếp đi đến chỗ của Thiện Tinh. Tỳkheo Thiện Tinh từ xa thấy đức Phật đến, thấy rồi liền sinh lòng tà ác. Do lòng ác nên thân sống của ông bị hãm vào ngục A tỳ.

            Ðức Phật nói tiếp :

            - Này thiện nam tử ! Tỳkheo Thiện Tinh tuy vào vô lượng bảo tụ của Phật Pháp mà trống rỗng, không thu hoạch được gì, thậm chí chẳng được sự lợi ích của một pháp vì buông lung và theo ác tri thức. Ví như có người tuy vào biển cả, thấy nhiều mọi thứ báu mà không được gì vì buông lung. Lại như vào được biển tuy thấy bảo tụ (đống báu), rồi tự giết nhau mà chết, hoặc bị quỉ ác La sát giết chết. Tỳkheo Thiện Tinh cũng lại như vậy, vào Phật pháp rồi thì bị sự giết hại của đại quỉ La sát Ác Tri thức. Này thiện nam tử ! Vậy nên Như Lai do thương xót nên thường nói nhiều những sự buông lung của ông Thiện Tinh. Này thiện nam tử ! Nếu vốn bần cùng thì ở chỗ người này tuy sinh thương xót nhưng lòng ấy mỏng. Nếu vốn cự phú thì sau khi mất của cải mà ở chỗ người này sinh ra thương xót thì lòng ấy dày. Tỳkheo Thiện Tinh cũng lại như vậy, tuy thọ trì đọc tụng mười hai bộ kinh, thu hoạch được bốn thiền nhưng về sau thoái mất rất đáng thương xót. Vậy nên ta nói nhiều những phóng dật của Tỳkheo Thiện Tinh. Vì nhiều phóng dật nên cắt đứt các căn lành. Những đệ tử của ta, người có thấy nghe thì đối với người này không ai chẳng sinh lòng thương xót nặng nề như người giàu lúc đầu về sau mất của. Ðã nhiều năm ta thường cùng với Thiện Tinh chung nhau theo đuổi mà ông đó tự sinh ra lòng tà ác mà do tà ác nên chẳng bỏ ác kiến. Này thiện nam tử ! Ta từ trước đến nay nếu thấy ông Thiện Tinh này có một chút căn lành như sợi lông cọng tóc thì nhất định ta chẳng huyền ký rằng, ông đó đoạn tuyệt căn lành, là nhất xiển đề, hạng người thấp hèn, trụ kiếp địa ngục. Do ông ấy tuyên nói không nhân, không quả, không có tác nghiệp nên ta mới huyền ký rằng, người đó vĩnh viễn cắt đứt thiện căn, là nhất xiển đề, hạng người thấp hèn, trụ kiếp địa ngục. Này thiện nam tử ! Ví như có người chìm trong chuồng xí (cầu tiêu), có bậc thiện tri thức dùng tay kéo nâng lên mà níu được đầu tóc thì liền kéo ra khỏi, nhưng tìm lâu chẳng được vậy mới ngưng ý tìm kiếm. Ta cũng như vậy, tìm thấy chút xíu căn lành của Thiện Tinh thì liền muốn cứu vớt. Nhưng ta trọn ngày tìm kiếm mà thậm chí chẳng được chút xíu căn lành như sợi lông cọng tóc. Vậy nên ông chẳng được cứu vớt khỏi địa ngục ấy.

            Bồ tát Ca Diếp bạch rằng :

            - Thưa đức Thế Tôn ! Ðức Như Lai vì sao huyền ký ông đó sẽ đọa vào địa ngục A tỳ ?

            - Này thiện nam tử ! Có nhiều quyến thuộc của Tỳkheo Thiện Tinh đều gọi Thiện Tinh là Alahán, là được đạo quả. Ta muốn hủy hoại lòng tà ác đó nên huyền ký rằng : Ông Thiện Tinh đó do phóng dật nên  đọa vào địa ngục. Này thiện nam tử ! Ông nay phải biết, lời nói của Như Lai chân thật không hai. Vì sao vậy ? - Vì nếu lời ký của Phật là sẽ đạo vào địa ngục, mà nếu chẳng đọa thì không có điều này. Lời ký biệt của Thanh Văn, Duyên Giác thì có hai thứ, hoặc hư dối, hoặc chân thật. Như ông Mục Kiền Liên, ở tại nước Ma Dà Ðà, bảo khắp mọi người rằng, lùi sau bảy ngày trời sẽ tuông mưa mà hết thời hạn trời chẳng mưa. Ông lại ký biệt rằng, con trâu cái sẽ sinh con nghé trắng, đến khi con trâu ấy sinh thì sinh ra con nghé loang lổ, ký sinh nam thì sau sinh ra nữ !. Này thiện nam tử ! Tỳkheo Thiện Tinh thường vì vô lượng những chúng sinh tuyên nói rằng, tất cả không quả báo thiện ác. Khi ấy ông đã cắt đứt vĩnh viễn tất cả căn lành, thậm chí không có chút xíu như sợi lông cọng tóc. Này thiện nam tử ! Ta biết từ lâu Tỳkheo Thiện Tinh này sẽ cắt đứt căn lành. Do vậy nên ta ở chung trọn hai mươi năm nuôi dưỡng, tu hành chung. Nếu ta rời xa chẳng gần gũi tả hữu thì người này sẽ dạy cho vô lượng chúng sinh tạo tác nghiệp ác. Ðó gọi là lực giải thứ năm của Như Lai.

            - Thưa đức Thế Tôn ! Bọn nhất xiển đề vì nhân duyên gì mà không có thiện pháp ?

            - Này thiện nam tử ! Bọn nhất xiển đề đoạn tuyệt căn lành. Chúng sinh có tín.v.v... năm căn mà bọn nhất xiển đề thì đoạn diệt vĩnh viễn. Do nghĩa này mà giết hại một con kiến còn bị tội sát sinh nhưng giết chết nhất xiển đề thì không có tội sát sinh.

            - Thưa đức Thế Tôn ! Nhất xiển đề thì nhất định không thiện pháp. Vậy nên gọi là nhất xiển đề sao ?

            Ðức Phật dạy rằng :

            - Ðúng vậy ! Ðúng vậy !

            - Thưa đức Thế Tôn ! Tất cả chúng sinh có ba thứ thiện. Ðó là thiện quá khứ, thiện vị lai, thiện hiện tại. Bọn nhất xiển đề cũng chẳng thể đoạn dứt thiện pháp của vị lai thì làm sao nói rằng, đoạn các thiện pháp gọi là nhất xiển đề vậy ?

            - Này thiện nam tử ! Ðoạn có hai thứ : Một là hiện tại diệt. Hai là hiện tại chướng ngại đến vị lai. Bọn nhất xiển đề đủ cả hai thứ đoạn này. Vậy nên ta nói rằng, đoạn dứt các căn lành. Này thiện nam tử ! Ví như có người chìm trong chuồng xí chỉ có đầu một sợi tóc, cọng lông chưa chìm. Tuy còn đầu một sợi tóc, cọng lông chưa chìm mà đầu một sợi lông chẳng thể thấy được thân. Bọn nhất xiển đề cũng lại như vậy, tuy đời vị lai sẽ có thiện căn mà chẳng thể cứu thoát khỏi khổ của địa ngục. Ðời vị lai tuy có thể cứu vớt nhưng đời hiện tại thì điều đó không có. Vậy nên gọi là chẳng thể cứu tế. Do nhân duyên Phật tính nên có thể được cứu. Phật tính thì chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại. Vậy nên Phật tính chẳng thể đoạn được. Như hạt giống mục  nát thì chẳng thể mọc mầm. Nhất xiển đề cũng lại như vậy.      - Thưa đức Thế Tôn ! Bọn nhất xiển đề chẳng đoạn dứt Phật tính mà Phật tính cũng thiện thì làm sao nói rằng, đoạn dứt tất cả thiện pháp ?

            - Này thiện nam tử ! Nếu các chúng sinh trong đời hiện tại có Phật tính thì chẳng được gọi là nhất xiển đề. Như tính ngã của chúng sinh  trong thế gian, Phật tính là thường, ba đời chẳng nhiếp lấy. Ba đời nếu nhiếp lấy thì gọi là vô thường. Phật tính vị lai do sẽ thấy nên nói rằng, chúng sinh đều có Phật tính. Do nghĩa này nên Bồ tát Thập Trụ trang nghiêm đầy đủ mới được thấy chút ít.

            Bồ tát Ca Diếp bạch rằng :

            - Thưa đức Thế Tôn ! Phật tính thường giống như hư không thì vì sao đức Như Lai nói rằng, vị lai ? Nếu đức Như Lai nói nhất xiển đề  không có thiện pháp thì bọn nhất xiển đề đối với người đồng học, đồng sư, cha mẹ, thân tộc, vợ con của họ há sẽ chẳng sinh lòng ái niệm sao ? Nếu bọn ấy sinh lòng đó thì chẳng phải là thiện ư ?

            Ðức Phật dạy rằng :

            - Hay thay ! Hay thay ! Này thiện nam tử ! Ông hỏi vấn đề ấy hay lắm ! Phật tính giống như hư không, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại ! Tất cả chúng sinh có ba thứ thân. Ðó là thân quá khứ, thân vị lai và thân hiện tại. Thân chúng sinh vị lai trang nghiêm đầy đủ thanh tịnh thì được thấy Phật tính. Vậy nên ta nói Phật tính vị lai. Này thiện nam tử ! Ta vì chúng sinh hoặc khi nói nhân là quả, hoặc khi nói quả là nhân. Vậy nên trong Kinh nói mạng là ăn, thấy sắc là xúc. Thân vị lai tịnh nên nói Phật tính.

            - Thưa đức Thế Tôn ! Như lời đức Phật nói mà nghĩa như vậy thì vì sao nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính ?

            - Này thiện nam tử ! Phật tính của chúng sinh tuy hiện tại Không nhưng chẳng thể nói là Không. Như tính hư không tuy không hiện tại nhưng chẳng được nói là Không. Tất cả chúng sinh tuy lại vô thường mà Phật tính này thường trụ không biến đổi. Vậy nên ở trong Kinh này ta nói rằng, Phật tính của chúng sinh chẳng phải trong, chẳng phải ngoài giống như hư không chẳng phải trong, chẳng phải ngoài. Như hư không ấy có  trong ngoài thì hư không chẳng gọi là một, là thường, cũng chẳng được nói rằng, tất cả chỗ có. Hư không tuy lại chẳng phải trong, chẳng phải ngoài mà các chúng sinh đều có nó. Phật tính của chúng sinh cũng lại như vậy. Như lời ông nói, bọn nhất xiển đề có thiện pháp thì nghĩa này không đúng. Vì sao vậy ? - Vì bọn nhất xiển đề nếu có nghiệp thân, nghiệp miệng, nghiệp  ý, nghiệp thủ (lấy), nghiệp cầu, nghiệp thí, nghiệp giải .v.v... những nghiệp như vậy thì đều là nghiệp tà. Vì sao vậy ? - Vì chẳng cầu nhân quả vậy. Này thiện nam tử ! Như quả, rễ, thân, cành, lá, hoa... của cây Ha lê lặc đều đắng, nghiệp của nhất xiển đề cũng lại như vậy.

            - Này thiện nam tử ! Như Lai biết đầy đủ các căn, lực. Vậy nên Như Lai giỏi có thể phân biệt chúng sinh thượng căn, trung căn, hạ căn. Như Lai có thể biết người này chuyển đổi hạ căn trở thành trung căn, có thể biết người này chuyển đổi trung  căn trở thành thượng căn, có thể biết người này chuyển đổi thượngï căn trở thành trung căn, có thể biết người này chuyển đổi trung căn trở thành hạ căn. Vậy nên ông phải biết là căn tính của chúng sinh không có quyết định. Do không quyết định nên hoặc đoạn dứt thiện căn mà đoạn rồi thì sinh trở lại. Nếu căn tính của những chúng sinh định thì nhất định chẳng trước đoạn dứt và đoạn rồi lại sinh ra, cũng chẳng nên nói rằng, bọn nhất xiển đề rơi vào địa ngục sống lâu một kiếp. Này thiện nam tử ! Vậy nên Như Lai nói rằng, tất cả pháp không có tướng quyết định !

             Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật  rằng :

            - Thưa đức Thế Tôn ! Ðức Như Lai biết đầy đủ các căn, lực thì nhất định biết ông Thiện Tinh sẽ đoạn dứt thiện căn. Do nhân duyên gì mà Ngài cho phép ông ấy xuất gia ?

            Ðức Phật dạy rằng :

            - Này thiện nam tử ! Vào thuở trước, khi ta mới xuất gia thì em ta là Nan Ðà, tùng đệ là A Nan, Ðề Bà Ðạt Ða, con ta là La Hầu La... những người như vậy đều theo ta xuất gia tu đạo. Nếu ta chẳng cho ông Thiện Tinh xuất gia thì người ấy theo thứ tự sẽ được nối ngôi vua. Sức lực ông ấy tự tại thì sẽ hủy hoại Phật pháp. Do nhân duyên này nên ta cho ông ấy xuất gia tu đạo. Này thiện nam tử ! Tỳkheo Thiện Tinh nếu  chẳng xuất gia cũng đoạn dứt thiện căn, ở vô lượng đều không có lợi ích. Nay ông ấy xuất gia rồi, tuy đoạn thiện căn nhưng có thể thọ trì giới, cúng dường cung kính bậc kỳ cựu trưởng túc và người có đức, tu tập Sơ thiền cho đến Tứ thiền. Ðó gọi là thiện nhân (nhân duyên thiện) . Thiện nhân như vậy có thể sinh ra thiện pháp. Thiện pháp đã sinh thì có thể tu tập đạo. Ðã tu tập đạo thì sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy nên ta cho ông Thiện Tinh xuất gia. Này thiện nam tử ! Nếu ta chẳng cho Tỳkheo Thiện Tinh xuất gia thọ giới thì mới chẳng được xưng ta là Như Lai đầy đủ mười lực. Này thiện nam tử ! Phật quan sát chúng sinh đầy đủ thiện pháp và bất thiện pháp. Người này tuy đủ hai pháp như vậy nhưng chẳng bao lâu có thể đoạn dứt tất cả thiện căn mà đầy đủ bất thiện căn. Vì sao vậy ? - Vì chúng sinh như vậy chẳng gần gũi bạn tốt, chẳng nghe chánh pháp, chẳng khéo tư duy, chẳng theo đúng như pháp tu hành. Do nhân duyên này người ấy có thể cắt đứt thiện căn, đầy đủ bất thiện căn. Này thiện nam tử ! Như Lai lại biết người này đời hiện tại hay đời vị lai lúc nhỏ, lúc lớn, khi già sẽ gần gũi bạn tốt, thính thọ chánh pháp : Khổ, Tập, Diệt, Ðạo thì lúc ấy có thể trở lại sinh ra căn lành. Này thiện nam tử ! Ví như có dòng suối cách xóm làng chẳng xa. Nước suối ấy ngon ngọt, đủ tám vị công đức. Có người nóng khát muốn đi đến suối. Có người trí ở bên cạnh quan sát người khát đó nhất định sẽ đi đến chỗ nước không gì nghi ngờ. Vì sao vậy ? - Vì không có con đường nào khác. Như Lai Thế Tôn quan sát các chúng sinh cũng lại như vậy. Vậy nên Như Lai gọi là biết đầy đủ các căn lực.

            Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lấy ít đất ở dưới đất đặt lên móng tay mà bảo ngài Ca Diếp Bồ tát rằng :

            - Ðất này nhiều hay đất của thế giới mười phương nhiều ?

            Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng :

            - Thưa đức Thế Tôn ! Ðất trên móng tay thì chẳng thể sánh với đất sở hữu của mười phương được.

            - Này thiện nam tử ! Có người xả thân trở lại được thân người, xả thân ba đường ác, được thọ thân người, các căn đầy đủ lành lặn, sinh ra ở trung tâm đất nước, đầy đủ chánh tín, có thể tu tập đạo, đã tu đạo là có thể được giải thoát, được giải thoát rồi là có thể vào Niết Bàn thì như đất trên móng tay. Còn chúng sinh xả thân người rồi được thân ba ác, xả thân ba ác được thân ba ác, các căn chẳng đủ, sinh ra nơi biên địa, tin tà đảo kiến, tu tập tà đạo, chẳng được giải thoát, Niết Bàn thường lạc thì như đất đai sở hữu của thế giới mười phương. Này thiện nam tử ! Hộ trì cấm giới, tinh cần chẳng giải đãi, chẳng phạm bốn trọng cấm, chẳng tạo tội ngũ nghịch, chẳng dùng đồ vật của tăng chúng, chẳng làm nhất xiển đề, chẳng cắt đứt căn lành, tin Kinh điển Niết Bàn.v.v... những người như vậy như đất trên móng tay (ít). Phá hủy giới, giải đãi, phạm bốn trọng cấm, tạo tội ngũ nghịch, dùng đồ vật của tăng chúng, làm nhất xiển đề, cắt đứt các căn lành, chẳng tin Kinh Ðại Niết Bàn này.v.v... những người như vậy như đất đai sở hữu của thế giới mười phương. Này thiện nam tử ! Như Lai giỏi biết chúng sinh thượng căn, trung căn và hạ căn như vậy. Vậy nên xưng Phật biết đầy đủ căn lực.

            Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng :

            -  Thưa đức Thế Tôn ! Ðức Như Lai đầy đủ sự biết căn lực này nên có thể biết sự sai biệt về ngu độn, lanh lợi, hạ căn, trung căn, thượng căn của tất cả chúng sinh, biết các căn của chúng sinh đời hiện tại, cũng biết các căn của chúng sinh đời vị lai. Sau khi đức Phật diệt độ, những chúng sinh như vậy sẽ nói lên như vầy : “Như Lai vào rốt ráo Niết Bàn hoặc chẳng vào rốt ráo Niết Bàn, hoặc nói có ngã, hoặc nói vô ngã, hoặc có “trung ấm”, hoặc không “trung ấm”, hoặc nói có thoái, hoặc nói không thoái, hoặc nói thân Như Lai là hữu vi, hoặc nói thân Như Lai là vô vi, hoặc nói mười hai nhân duyên là pháp hữu vi, hoặc nói mười hai nhân duyên là pháp vô vi, hoặc nói tâm là hữu thường, hoặc nói tâm là vô thường, hoặc nói thọ năm dục lạc có thể chướng ngại đạo, hoặc nói chẳng ngăn ngại đạo, hoặc nói pháp đệ nhất của đời chỉ là Dục giới, hoặc nói là Tam giới, hoặc nói bố thí chỉ là nghiệp của ý, hoặc nói tức là của năm ấm”. Hoặc có người nói rằng, có ba vô vi. Hoặc có người nói rằng, không có ba vô vi. Lại có người nói rằng , hoặc có tạo sắc. Lại có người nói rằng, hoặc không tạo sắc. Hoặc có người nói rằng, có sắc vô tác. Hoặc có người nói rằng, không có sắc vô tác. Hoặc có người nói rằng, có pháp tâm số. Hoặc có người nói rằng, không có pháp tâm số. Hoặc có người nói rằng, có năm thứ hữu. Hoặc có người nói rằng, có sáu thứ hữu. Hoặc có người nói rằng, pháp tám giới trai, người đầy đủ giới Ưu bà tắc thọ được. Hoặc có người nói rằng, người chẳng đủ thọ được. Hoặc có người nói rằng, Tỳkheo phạm bốn trọng cấm rồi thì giới Tỳkheo vẫn tồn tại, hoặc nói chẳng tồn tại. Hoặc có người nói rằng, người Tu đà hoàn, người Tư đà hàm, người A na hàm, người A la hán đều được Phật đạo, hoặc nói chẳng được. Hoặc có người nói, Phật tính tức là hữu của chúng sinh, hoặc nói, Phật tính lìa khỏi hữu của chúng sinh. Hoặc có người nói rằng, người phạm bốn trọng cấm, tạo tội ngũ nghịch, nhất xiển đề.v.v... đều có Phật tính, hoặc nói rằng, không. Hoặc có người nói rằng, có Phật mười phương. Hoặc có người nói rằng, không có Phật mười phương... Như đức Như Lai thành tựu đầy đủ việc biết căn lực ấy thì vì sao ngày hôm nay chẳng quyết định nói ?

             Ðức Phật bảo Bồ tát Ca Diếp rằng :

            - Này thiện nam tử ! Nghĩa như vậy chẳng phải là nhãn thức biết... cho đến chẳng phải là ý thức biết. Ðó là sự “năng tri” của trí tuệ. Nếu người có trí tuệ thì ta đối với người này nhất định chẳng tạo tác hai lời. Ðó cũng gọi là ta chẳng tạo tác hai lời. Ðối với kẻ vô trí thì ta tạo tác lời nói bất định mà kẻ vô trí này cũng lại cho là ta tạo tác lời nói bất định. Này thiện nam tử ! Tất cả nghiệp hạnh sở hữu của Như Lai đều vì điều phục các chúng sinh. Ví như những phương thuốc sở hữu của vị y vương đều vì trị liệu tất cả bệnh khổ. Này thiện nam tử! Như Lai Thế Tôn vì đất nước, vì thời tiết, vì lời nói người khác. Vì người, vì mọi căn nên ở trong một pháp tạo ra hai thứ nói, đối với pháp một tên nói ra vô lượng tên, ở trong một nghĩa nói ra vô lượng tên, ở vô lượng nghĩa nói ra vô lượng tên. Sao gọi là một tên nói ra vô lượng tên ? - Giống như Niết Bàn, cũng tên là Niết Bàn, cũng tên là vô sinh, cũng tên là Vô Xuất, cũng tên là Vô Tác, cũng tên là Vô Vi, cũng tên là Quy Y, cũng tên là Hang Ổ (Quật trạch), cũng tên là Giải thoát, cũng tên là Quang Minh, cũng tên là Ðăng Minh, cũng tên là Bỉ Ngạn, cũng tên Vô Úy, cũng tên là Vô Thoái, cũng tên là An Xứ, cũng tên là Tịch Tịnh, cũng tên là Vô Tướng, cũng tên là Vô Nhị, cũng tên là Nhất Hạnh, cũng tên là Thanh Lương, cũng tên là Vô Ám, cũng tên là Vô Ngại, cũng tên là Vô Tránh, cũng tên là Vô Trược, cũng tên là Quảng Ðại, cũng tên là Cam Lộ, cũng tên là Cát Tường... Ðó gọi là một tên tạo ra vô lượng tên.

            Sao gọi là một nghĩa nói ra vô lượng tên ? - Giống như Ðế Thích. Cũng tên là Ðế Thích, cũng tên là Kiều Thi Ca, cũng tên là Bà Tha Bà, cũng tên là Phú Lan Ðà La, cũng tên là Ma Khư Bà, cũng tên là Nhân Ðà La, cũng tên là Thiên Nhãn, cũng tên là Xá Chỉ Phù, cũng tên là Kim Cương, cũng tên là Bảo Ðỉnh, cũng tên là Bảo Tràng... Ðó là một nghĩa nói ra vô lượng tên.

            Sao gọi là vô lượng nghĩa nói ra vô lượng tên ? -  Như Phật Như Lai tên là Như Lai thì nghĩa khác tên khác, cũng tên là A La Ha thì nghĩa khác tên khác, cũng tên là Tam Miệu Tam Phật Ðà thì nghĩa khác tên khác, cũng tên là Thuyền Sư, cũng tên là Ðạo sư, cũng tên là Chính Giác, cũng tên là Minh Hành Túc, cũng tên là Ðại sư Tử vương, cũng tên là Sa Môn, cũng tên là Bà la Môn, cũng tên là Tịch Tịnh, cũng tên là Thí Chủ, cũng tên là Ðáo Bỉ Ngạn, cũng tên là Ðại Y Vương, cũng tên là Ðại Tượng Vương, cũng tên là Ðại Long Vương, cũng tên là Thí Nhãn, cũng tên là Ðại Lực Sĩ, cũng tên là Ðại Vô Úy, cũng tên là Bảo Tụ, cũng tên là Thương Chủ, cũng tên là Ðắc Thoát, cũng tên là Ðại Trượng Phu, cũng tên là Thiên Nhân Sư, cũng tên là Ðại Phân Ðà Lợi, cũng tên là Ðộc Vô Ðẳng Lữ, cũng tên là Ðại Phước Ðiền, cũng tên là Ðại Trí Tuệ Hải, cũng tên là Vô Tướng, cũng tên là Cụ Túc Bát Trí... Như vậy tất cả nghĩa khác, tên khác. Này thiện nam tử ! Ðó gọi là trong vô lượng nghĩa nói vô lượng tên.

            Lại có một nghĩa nói vô lượng tên. Ðó là Như Ấm, cũng tên là Ấm, cũng tên là Ðiên Ðảo, cũng tên là Ðế, cũng tên là Tứ Niệm Xứ, cũng tên là Tứ Thực (Bốn ăn), cũng tên là Tứ Thức Trụ Xứ, cũng tên là Hữu, cũng tên là Ðạo, cũng tên là Thời, cũng tên là Chúng Sinh, cũng tên là Vi Thế, cũng tên là Ðệ Nhất nghĩa, cũng tên là Tam Tu gọi là Thân, Giới, Tâm, cũng tên là Nhân Quả, cũng tên là Phiền Não, cũng tên là Giải Thoát, cũng tên là Thập Nhị Nhân Duyên, cũng tên là Thanh Văn, Bích Chi Phật, cũng tên là Ðịa Ngục, Ngã Quỷ, Súc Sinh, Nhân Thiên, cũng tên là Quá Khứ, Hiện tại, Vị Lai... Ðó gọi là một nghĩa mà nói vô lượng tên. Này thiện nam tử ! Như Lai Thế Tôn vì chúng sinh nên trong rộng nói lược, trong lược nói rộng. Ðệ Nhất Nghĩa Ðế nói là Thế Ðế, nói Thế Ðế pháp là Ðệ Nhất Nghĩa Ðế.


Xem dưới dạng văn bản thuần túy